Tản văn: TRI ÂN (Phan Thị Hoài Thu - TH Văn B K32).

By

 

TRI ÂN

Đêm Quy Nhơn lạnh và buồn nhưng đó là một đêm đầy ý nghĩa đối với con. Sống xa nhà đã lâu rất nhiều người bạn của con nếu không phải người nhà thì cũng là người thân người yâu vào thăm. Đó là điều mà con ghen tị nhất với tụi nó. Nhưng rồi điều ước của con vẫn thành hiện thực. mẹ đã vào thăm con.
Đã lâu lắm rồi con không được ngủ với mẹ. Từ nhỏ con là một đứa con bướng bỉnh nhưng đầy cá tính. Con đã không muốn ngủ chung vớibố mẹ mà lại ngủ riêng với em con. Bởi vậy mà giờ đây con thấy một cảm giác gì đó thật khó tả.Nó vừa lạ lại vừa quen. Có lẽ rằng hơi ấm của mẹ từ nhỏ đã in sâu vào trong tâm hồn con và giờ đây nó chợt đến như gọi miền ký ức con trở về tuổi thơ. Nhưng dường như giờ đây lại có một chút gì đó quá mới mẻ làm con như chợt hiểu ra rằng điều này từ lâu mình đã có mà tới bây giờ mới nhận ra. May là còn chưa quá muộn vì có ngày hôm nay.
Cảm giác xưa mà nay con mới cảm nhận lại nó mang cho con một cảm xúc thật đặc biệt mẹ àh! Từ nhỏ con đã được sự dạy bảo nghiêm khắc và "quá đáng"(theo suy nghĩ của con) của mẹ. Và đã rất nhiều lần con thấy tủi thân khi mình hoàn toàn khác với những người bạn cùng trang lứa. Họ được vui chơi trong khi con lại phải làm việc phải chụi nhiều trận đòn roi vì nhiều lần mảng chơi quên việc mẹ dặn. lúc ấy con có biết đâu mẹ dạy con là muốn tối cho con.
Lúc trước con ghét mẹ bao nhiêu thì giờ đây con lại thương mẹ bấy nhiêu. Mẹ có biết rằng những lần mẹ nhờ con nhổ tóc bạc cho mẹ là những lần trong tim con chợt rơi những giọt lệ. Mỗi sợi tóc bạc như làm cho lòng con xuyến xao và thấy luyến tiếc một điều gì không rõ. Con biết cuộc đời này không bao giờ là vĩnh cửu đối với mọi người nhưng trong con vẫn ấp ủ một giấc mộng mà con biết nó khó có thể thành hiện thực - giấc mộng luôn được sống bên mẹ.
Mẹ có biết đêm nay được nằm lại trong vòng tay ấm áp của mẹ mà nước mắt con không dám rơi trên cánh tay xương xương của mẹ trái tim con thổn thức như muốn níu giữ khoảnh khắc ấy mãi mãi. một đêm con không tài nào ngủ được vì vui vì hạnh phúc vì tìm lại được hơi ấm của ngày xưa.
Ngày mai khi mẹ rời Quy nhơn - thành phố biển tươi đẹp này để trở về mảnh đất Hà Tĩnh nắng lửa mưa giông nhưng tha thiết ân tình thì hãy cho con gửi theo tình yêu về miền quê ấy với nhé. Và con không biết mẹ có hiểu lòng con lúc này hay không nhưng con mong khi đọc những dòng này mẹ con mình sẽ hiểu nhau hơn và mẹ hiểu con yêu mẹ đến nhường nào.

P.T.H.T

 

 

More...

Tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam thời trung đại - từ góc nhìn phiên dịch Hán Nôm.

By

Tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam thời Trung đại

Từ góc nhìn phiên dịch Hán Nôm 
ThS. Nguyễn Tuấn Cường 
Khoa Văn học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Đại học Quốc gia Hà Nội

 
 
       Trong bài viết này căn cứ trên phạm vi tư liệu sử dụng là (những ghi chép về) 04 tác phẩm Kinh Thi chữ Nôm hiện không/ chưa tìm thấy và 08 tác phẩm 19 văn bản 31 kí hiệu sách với tổng số 5.368 trang tư liệu về Kinh Thi chữ Nôm hiện còn lưu giữ người viết thử phác họa một cái nhìn về vấn đề tiếp nhận Kinh Thi qua phiên dịch Hán Nôm từ góc nhìn phiên dịch học (phiên dịch học với tư cách là một hoạt động giao tiếp liên văn hóa([1])) và góc nhìn lịch sử văn hóa. Trên cơ sở đó bài viết sẽ sơ bộ tìm hiểu ba vấn đề: một là lược sử phiên dịch Kinh Thi tại Việt Nam thời Trung Đại hai là cách xử lí của các bản dịch với thứ ngôn ngữ phân tích tính cao của Kinh Thi và ba là thiên hướng tiếp nhận Kinh Thi của các bản dịch là văn học hay kinh học. Bởi trong số những dịch phẩm kể trên có một số dịch phẩm chỉ dịch hết 160 thiên phần Quốc Phong nên những khảo sát trong bài viết cũng tạm thời giới hạn trong độ dài đó.

Từ theo chốt (key words): Kinh Thi chữ Nôm tiếp nhận phiên dịch 

        1. Lược sử phiên dịch Kinh Thi tại Việt Nam thời Trung Đại([2])

        Trong phiên dịch phương Tây “Eric Jacobsen khẳng định một cách khá bao quát rằng phiên dịch là một sáng tạo của người La Mã cổ đại”([3]) nhưng phải đến đầu thế kỉ 16 phương Tây mới xuất hiện những nhà nghiên cứu lí thuyết phiên dịch thực thụ tiêu biểu là nhà nhân văn học người Pháp Etienne Dolet (1509 - 1546) với việc đề xuất 5 nguyên tắc cho dịch giả trong tác phẩm La manière de bien traduire d une langue en aultre (Làm sao để dịch cho tốt từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác)([4]). Đến cuối thế kỉ 20 phiên dịch học đã xác định được một vị trí không thể phủ nhận của một ngành khoa học với sự ra đời liên tiếp của hai bộ bách khoa thư Encyclopedia of Translation Studies (Bách khoa toàn thư phiên dịch học 1998) và Encyclopedia of  Literary Translation into English (Bách khoa toàn thư phiên dịch văn chương sang Anh ngữ 2000)([5]).

         Ở Trung Quốc mặc dù phiên dịch nước này chỉ nở rộ từ phong trào dịch kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Hán bắt đầu với cuốn Minh độ ngũ thập hiệu kế kinh do An Thế Cao dịch vào năm thứ nhất niên hiệu Nguyên Gia đời Hán Hoàn đế (năm 151)([6]) và phát triển mạnh mẽ ở thời Cưu Ma La Thập([7]) nhưng ngay từ thời Tây Hán trong tác phẩm Sử kí ở nhiều thiên khi sử dụng tư liệu từ Kinh Thư Tư Mã Thiên đã “dịch” một phần thứ văn ngôn trong Kinh Thư ra tiếng Hán thời Tây Hán([8]).

Ở Việt Nam có một số ghi chép mang tính huyền sử về việc phiên dịch trong xã hội xưa như Bạch trĩ truyện trong Lĩnh Nam chích quái chép: “Vào thời Chu Thành Vương vua Hùng Vương sai bề tôi xưng là họ Việt Thường đem trĩ trắng sang dâng biếu nhà Chu. Vì ngôn ngữ bất đồng Chu Công phải sai người qua mấy lần dịch rồi mới biết”([9]). Tư liệu đáng tin cậy về phiên dịch (dịch viết) sớm nhất ở Việt Nam có lẽ là những thông tin từ trong Thiền uyển tập anh với lời Thông Biện Quốc Sư trích lời Đàm Thiên Pháp Sư đáp Tùy Cao tổ: “Một phương Giao Châu đường thông Thiên Trúc Phật pháp lúc mới tới thì Giang Đông chưa có mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi độ tăng hơn 500 người dịch kinh 15 quyển vì nó có trước vậy”([10]). Có thể hiểu phiên dịch ở đây là dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán bởi khi ấy nước ta chưa có một văn tự riêng thành thục. Phong trào dịch kinh Phật vẫn tiếp tục diễn ra ở Việt Nam và chắc hẳn đã chuyển dần từ dịch Phạn – Hán sang dịch Hán – Việt (qua chữ Nôm) khi chữ Nôm đạt đến độ thành thục (với nghĩa đủ để ghi toàn bộ hệ thống ngôn ngữ nói) mà di duệ khá sớm của phong trào này hiện nay còn có thể thấy qua cuốn Phật thuyết Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh mặc dù tác phẩm này chỉ còn một văn bản in theo bộ ván gỗ được khắc vào thế kỉ 18 nhưng ngôn ngữ và văn tự (chữ Nôm) trong văn bản cho thấy rất có thể đây là tác phẩm được dịch và định hình ngôn ngữ văn tự từ thời Lí Trần([11]).

         Trong bối cảnh phiên dịch như vậy việc dịch Kinh Thi từ tiếng Hán sang tiếng Việt (qua chữ Nôm) đã được đặt ra từ rất sớm trên lãnh thổ Việt Nam. Sách Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa cho rằng “Đến thời Sĩ vương dời xe đến nước ta [cai trị] hơn bốn mươi năm ban khắp giáo hóa giải nghĩa bằng lời thông tục nước Nam để thông hiểu chương cú hợp thành thi ca quốc ngữ để ghi tên gọi theo vần mà làm sách Chỉ nam phẩm vựng gồm hai quyển thượng và hạ”([12]). Văn Đa Cư Sĩ Nguyễn Văn San (khoảng nửa sau thế kỉ 19) có lẽ đã căn cứ vào những ghi chép này để nêu ra thuyết Sĩ Nhiếp (Tiếp 187 - 226) dịch Kinh Thi ra chữ Nôm tuy rằng đây có thể chỉ là những trang huyền sử([13]) nhưng việc đẩy niên đại phiên dịch Kinh Thi lên đến tận thời Sĩ Nhiếp (được gắn cho tôn hiệu Nam Giao Học Tổ) cho thấy bộ kinh điển này đã được người Việt xưa trọng thị và tôn sùng. Về thời nhà Hồ bộ tín sử Đại Việt sử kí toàn thư chép: “Tháng 11 [năm Quang Thái thứ 9 (1396)] [Hồ] Quý Li làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa và bài tựa sai nữ sư dạy hậu phi và cung nhân học tập. Bài tựa phần nhiều theo ý mình không theo tập truyện của Chu Tử”([14]). Theo ghi chú của người dịch bộ sử kí này thì đây có lẽ là một bản “giải thích Kinh Thi bằng quốc ngữ hay dịch Kinh Thi ra quốc ngữ (chữ Nôm)”. Dù tư liệu này hiện không còn giữ được nhưng ghi chép về nó cho thấy Kinh Thi đã được dịch làm tài liệu để giáo dục những phụ nữ có địa vị cao trong xã hội một động thái chứng tỏ nhà cầm quyền đương thời đã có ý thức mở rộng đối tượng giáo dục của bộ kinh điển này sang phạm vi nữ giới chứ không chỉ bó hẹp trong phạm vi nam giới theo quan điểm giáo dục của Nho giáo truyền thống.

Từ sau thời Hồ phong trào phiên dịch ở Việt Nam ngày càng nở rộ và quan trọng hơn cả là sản phẩm của hoạt động phiên dịch ấy vẫn còn hiện hữu trước mắt chúng ta ngày nay. Trong thời Trung Đại dù chữ “Quốc ngữ” (chữ cái Latin ghi tiếng Việt) đã được sử dụng tuy không rộng rãi (chủ yếu là trong Giáo hội Công giáo) tại Việt Nam nhưng với những tư liệu hiện biết thì thành quả phiên dịch giai đoạn này nổi bật là dịch từ tiếng Hán (qua chữ Hán) sang tiếng Việt (qua chữ Nôm). Một trong những tác phẩm Hán văn rất được chú ý dịch là Kinh Thi. Về những tư liệu dịch đã mất ngoài huyền sử về việc Sĩ Nhiếp dịch Kinh Thi và việc Hồ Quý Li làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa (xem trên) ở giai đoạn trước thì từ thời Hồ trở đi ta còn biết đến việc Nguyễn Quý Kính (Cảnh 1693 - 1766) thích nghĩa Tứ Thư Ngũ Kinh([15]) (hẳn phải có Kinh Thi); việc Tùng Thiện vương Nguyễn Miên Thẩm (1819 - 1870) viết một quyển Thi kinh quốc âm ca ([16]). Đáng tiếc là bốn tư liệu này hiện chưa/ không tìm được.

Bất kể là  có hay không có sự mất mát trên thì chúng ta vẫn hoàn toàn có thể lạc quan vì theo những tư liệu người viết khảo sát hiện vẫn còn lưu giữ được ít nhất 08 tác phẩm 19 văn bản 31 kí hiệu sách với tổng số 5.368 trang tư liệu về Kinh Thi chữ Nôm([17]) (xin xem bảng tổng kết về trữ lượng tư liệu Kinh Thi chữ Nôm hiện còn trong phần Phụ lục cuối bài viết này). Các dịch phẩm này được thể hiện ở cả hai thể loại văn xuôivăn vần về quy mô có cả toàn dịchlược dịch. Niên đại của các dịch phẩm trải dài từ đầu thế kỉ 18 đến cuối thế kỉ 19 – đầu thế kỉ 20. Sớm nhất là tác phẩm Thi kinh giải âm chưa rõ dịch giả mới phát hiện được một văn bản in theo ván khắc của nhà tàng bản Kế Thiện đường khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) văn bản này đã được Sùng Chính viện cho khắc lại vào năm Quang Trung thứ 5 (1792) theo chiếu chỉ của vua Quang Trung yêu cầu dịch gấp một số bộ kinh điển Nho gia([18]). Sau đó là tác phẩm Thi kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa gồm hai bản khắc một bản khắc năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) của nhà tàng bản Nguyễn đường và ngay một năm sau đó năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) nó đã được Đa Văn đường khắc lại. Tác phẩm này dựa trên cơ sở bản chữ Hán Thi kinh đại toàn tiết yếu ([19]) của Bùi Huy Bích (1744 - 1818) nhưng chưa rõ người dịch có phải là chính họ Bùi hay không([20]). Việc chỉ trong một thời gian không dài (1714 → 1792 1836 → 1837) đặc biệt là trong điều kiện khắc ván và in ấn khó khăn mà các dịch phẩm đã được “tái bản” liên tục như vậy chứng tỏ nhu cầu tiếp nhận Kinh Thi ở Việt Nam là tương đối cấp thiết.

Bên cạnh những dịch phẩm văn xuôi trên còn một số dịch phẩm bằng thơ mà văn bản phần lớn tồn tại ở dạng chép tay chưa rõ niên đại chính xác ước đoán xuất hiện trong khoảng từ cuối thế kỉ 18 đến đầu thế kỉ 20. Đáng ghi nhận nhất là hai tác phẩm Thập ngũ Quốc Phong diễn âm (AB.169) và Thi kinh thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc([21])(A.1122) đều diễn ca trọn vẹn 160 thiên thuộc phần Quốc Phong (mỗi thiên dịch thành một bài thơ riêng) tổng số câu của mỗi bản diễn ca lần lượt là 1.617 và 1.499. Cũng cần nhắc đến tác phẩm Thi kinh quốc ngữ ca (có thể là tác phẩm của Nguyễn Bá Lân 1700 - 1785) thể lục bát dài 700 câu (dòng) thơ diễn ca tóm lược mỗi thiên gọn vào khoảng 2 câu thơ tác phẩm này còn 1 bản khắc in kí hiệu VNv.125 và 5 truyền bản chép tay khác trong các kí hiệu sách AB.151 AB.314 AB.360 AB.523 VNv.533. Ngoài ra còn một số bản diễn ca lẻ tẻ từng thiên như thiên Thất nguyệt thiên Tiểu nhung mà Phạm Đình Toái (giữa thế kỉ 19) cũng tham gia diễn ca. Người Việt dường như đặc biệt chú ý đến thiên Thất nguyệt thuộc Mân Phong 88 câu (dài nhất trong 160 thiên Quốc Phong) đến nay chỉ riêng thiên này vẫn còn 2 bản dịch văn xuôi([22]) và 4 bản dịch thơ([23]) bằng chữ Nôm. Điều đó chứng tỏ trong thời Trung Đại ở Việt Nam nhu cầu đọc thiên Thất nguyệt là khá cấp thiết nguyên nhân có lẽ là do thiên này có nội dung nói về những công việc gắn bó thiết thân tới người nông dân trong trọn năm: thời tiết nông vụ trồng trọt ăn mặc trồng dâu nuôi tằm xe tơ dệt lụa săn bắn dâng lễ vật lên vua…

Rõ ràng là  Kinh Thi đã rất được chú ý phiên dịch trong lịch sử Trung Đại Việt Nam. Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng này? Ta biết rằng Kinh Thi vốn tồn tại với hai tư cách: một tác phẩm văn học và một bộ kinh điển của Nho giáo. Là tác phẩm văn học nó nổi trội ở thời điểm ra đời rất sớm trong lịch sử văn học Trung Quốc (khoảng từ trước thế kỉ 6 tr.CN). Là tác phẩm kinh điển Nho giáo nó nổi trội ở thể loại văn vần duy nhất trong số Tứ Thư – Ngũ Kinh. Đến thời Hồ thì về cơ bản Nho giáo đã tạo được những ảnh hưởng lấn át dần Phật giáo và Đạo giáo trong xã hội Việt Nam đặc biệt là trong chính trị và giáo dục bằng chứng là thời kì này đã xuất hiện những bậc “cự Nho” như Nguyễn Trãi. Với tính “sùng cổ” “sùng kinh” và “sùng văn” của Nho sĩ nói chung và lớp trí thức Nho học Đại Việt nói riêng thì việc từ rất sớm người Việt đã chọn một tác phẩm văn học – kinh học có nguồn gốc xa xưa như Kinh Thi để dịch ra bản ngữ là điều có thể cắt nghĩa được.

2. Cách xử lí  dịch với thứ ngôn ngữ phân tích tính cao trong Kinh Thi

Bất cứ độc giả nào đọc Kinh Thi đều nhận thấy một điều là: ngôn ngữ trong Kinh Thi là ngôn ngữ phân tích tính (analytic language) cao độ… Ví dụ: trong thiên Tiểu nhung để biểu thị các giống ngựa khác nhau Kinh Thi đã dùng để chỉ ngựa có vằn màu xanh đen dùng chúc 馵để chỉ ngựa có chân sau bên trái màu trắng dùng lưu để chỉ ngựa màu đỏ mà lông bờm đen dùng qua để chỉ ngựa vàng mõm đen dùng li để chỉ ngựa đen tuyền… chứ không dùng cấu trúc định ngữ + trung tâm ngữ (x + ) như cách xử lí của ngôn ngữ tổng hợp tính (synthetic language). Hay như thiên Trắc hỗ dùng hỗ để chỉ núi trọc dùng để chỉ núi có cây cỏ chứ không dùng cấu trúc xxx + sơn Trong khi đó qua văn Nôm nói chung ta đều thấy ngôn ngữ tiếng Việt vào thời xuất hiện các bản dịch chữ Nôm lại không phải là ngôn ngữ phân tích tính cao như thế. Vậy thì các bản dịch đã lựa chọn giải pháp nào để dung hòa mâu thuẫn này? Kết quả khảo sát cho thấy các bản dịch đều tỏ ra tôn trọng nguyên bản bằng cách xử lí đưa nguyên chữ Hán ấy vào bản dịch ví dụ:

-    Ngựa kì ngựa lưu ấy làm ngựa giữa ngựa qua ngựa li ấy làm ngựa tham. (các bản Vĩnh Thịnh 1714 và Quang Trung 1792 ở trang IV4b các bản Minh Mệnh 1836 và Minh Mệnh 1837 ở trang II91a).

-   Ngựa kì lưu ấy này ở giữa

Ngựa  qua li hai ngựa kèm ngoài.

(Thập ngũ Quốc Phong diễn âm AB.169 154a)

-   Kì lưu song mã kéo trong

Qua li hai ngựa gác rong bên ngoài.                  

  (Thi kinh thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc A.1122 68a)

Nhưng cũng có bản dịch chọn cách dịch thành thứ ngôn ngữ tổng hợp tính ví dụ với thiên Trắc Hỗ hai bản dịch thơ giữ nguyên ngôn ngữ phân tích tính còn bốn bản diễn xuôi chuyển thành ngôn ngữ tổng hợp tính:

Lên  núi trọi kia vậy […] Lên núi rậm kia vậy (bốn bản diễn xuôi III42ab II73b-74a)

 Lên hỗ dĩ trông nom cha mẹ (AB.169 132a)

Trèo lên núi  hỗ dĩ kia (A.1122 64a)

Nhưng điểm quan trọng nhất có lẽ là: trong khi muốn giữ nguyên thứ  ngôn ngữ phân tích tính của Kinh Thi thì ngay ở lời dịch các dịch giả vẫn chú ý biến nó thành một thứ ngôn ngữ tổng hợp tính: ngựa kì ngựa lưu ngựa qua ngựa li ngựa kì lưu ngựa qua li kì lưu song mã qua li hai ngựa núi hỗ dĩ kia… Đó là cách xử lí chung mà các bản dịch Nôm đã thực hiện với thứ ngôn ngữ phân tích tính cao trong Kinh Thi mà trường hợp hai thiên Tiểu nhung Trắc hỗ nêu ra trên đây chỉ là những điển hình. Cách xử lí này đã chứng tỏ được tính nghệ thuật và tính khoa học của nó bởi đến cuối thế kỉ 20 nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh vẫn còn tái khẳng định điều này khi ông cũng có chủ trương tương tự với vấn đề dịch Kinh Thi ra tiếng Việt ông viết: “[…] theo ý tôi cứ dịch là “ngựa” hoặc “ngựa kì” “ngựa chúc”… còn chi tiết nếu muốn giúp người đọc hiểu thêm tốt hơn nên đưa riêng vào phần chú thích. Làm như vậy chúng ta vừa đảm bảo được tính nghệ thuật của bản dịch vừa đảm bảo tính chính xác khoa học trên phương diện ngôn ngữ học”[24].

Qua đây có thể thấy: một mặt các bản dịch đã giữ một thái độ tôn trọng nguyên bản Kinh Thi khi tiếp nhận tác phẩm này người dịch sẵn sàng chấp nhận khó khăn khi đọc hiểu ngôn ngữ đích (target language) để có thể truyền đạt trọn vẹn các lớp nghĩa của ngôn ngữ nguồn (source language) bằng việc tái sử dụng nguyên vẹn một số từ ngữ ở ngôn ngữ nguồn; mặt khác các bản dịch vẫn luôn có xu hướng “tổng hợp tính hóa” ngôn ngữ Kinh Thi bằng cả hai cách: một là dịch thẳng nghĩa của một từ phân tích tính của ngôn ngữ nguồn sang một từ tổ tổng hợp tính của ngôn ngữ đích (hỗ → núi trọi dĩ → núi trọc…) hai là đệm một danh từ chung vào trước (hoặc sau khi chịu sức ép của vần luật thơ) những từ phân tích tính (ngựa kì ngựa lưu ngựa qua ngựa li qua li hai ngựa…).

3. Tiếp nhận kinh học và văn học

Như trên  đã trình bày Kinh Thi tồn tại song song với hai tư cách: tác phẩm văn học và tác phẩm kinh học Nho gia. Thời gian xuất hiện ở Việt Nam những bản dịch hiện còn (sớm nhất là bản có niên đại ván khắc 1714) cũng là thời gian mà Nho giáo đã ảnh hưởng toàn diện đến thiết chế tư tưởng văn hóa xã hội Việt Nam vì vậy quá trình tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam hoàn toàn có thể diễn ra cả theo hướng tiếp nhận một tác phẩm văn học (bản lai diện mục của bộ kinh điển này) và tiếp nhận một tác phẩm kinh học Nho gia (do ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo Trung Quốc).

Nguyên lai Kinh Thi là một tác phẩm văn học bằng thơ nhưng do có thuyết cho rằng nó được Khổng tử san định([25]) nên hậu Nho đã “kinh học hóa” (classicize) “huyền thoại hóa” (mythify) thi phẩm ấy. Trào lưu này vốn xuất hiện ngay từ thời Hán với các bản chú giải Kinh Thi như Mao truyện Trịnh tiên và tiêu biểu là bản Thi kinh tập truyện của Chu Hi đời Tống. Nhưng trào lưu “kinh học hóa” “huyền thoại hóa” ấy dần dần bị phản đối từ đời Minh đã xuất hiện trào lưu nghiên cứu Kinh Thi “phản truyền thống” coi trọng thi ý và tình cảm mà coi nhẹ huấn hỗ và lí tính trào lưu này tiếp tục phát triển mạnh vào đời Thanh. Theo nhà nghiên cứu Vương Hiểu Bình ở Trung Quốc Phương Ngọc Nhuận (1811 - 1883) người đời Thanh viết cuốn Thi kinh nguyên thủy với phương châm theo chữ để xét nghĩa tầm nguyên ý gốc của thi nhân. Phương Ngọc Nhuận cho rằng thơ trong Kinh Thi không bị câu nệ bởi Thi tự Mao truyện như với thiên Phù dĩ ông gạt bỏ các thuyết “chữa ác tật” và “chữa khó đẻ”; với thiên Manh ông cho đây không phải là sáng tác về việc ruồng bỏ vợ… Ông còn nói rằng: “Đại để là các nhà nghiên cứu về Kinh Thi trước hết đều bị một cái mũ vừa to vừa rộng chụp vào đầu rồi sau mới tự mình trình bày ý kiến riêng”. Ở Nhật Bản các học giả từ thời Giang Hộ (Edo 1601 – 1867) đã kế thừa xu hướng “phản truyền thống” trong nghiên cứu Kinh Thi đời Minh ở Trung Quốc. Các học giả Nhật là hai cha con Y Đằng Nhân Trai (Ito Jinsai 1627 - 1705) và Y Đằng Đông Nhai (Ito Togai 1670 – 1738) Lương Xuyên Tinh Nham (Yanagawa Seigan 1789 – 1858)… thời Giang Hộ; và Tiểu Dã Hồ Sơn (Ono Kozan 1814 – 1910) thời Minh Trị (Meiji 1868 - 1912) “đều chủ trương đọc Kinh Thi với tư cách là một tác phẩm văn học”([26]).

       Có thể thấy rằng vào thời Minh – Thanh ở Trung Quốc và các thời Giang Hộ Minh Trị ở Nhật Bản người Trung Quốc và Nhật Bản đã không chỉ hiểu Kinh Thi với tư cách một tác phẩm kinh học (như yêu cầu trong khoa cử) mà họ còn hiểu Kinh Thi với tư cách một tác phẩm văn học thực thụ trào lưu “giải kinh học” (declassicize) “giải huyền thoại” (demythify) đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc tiếp nhận Kinh Thi. Vậy trong cùng thời kì đó người Việt Nam đã tiếp nhận tác phẩm này như thế nào? Như đã dẫn trên Hồ Quý Li làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa trong đóBài tựa phần nhiều theo ý mình không theo tập truyện của Chu Tử” mặc dù ghi chép này không hề đề cập đến nội dung phần diễn Nôm Kinh Thi mà chỉ nói về tư tưởng của người dịch trong bài tựa nhưng nó có thể là một bằng chứng cho thấy ở Việt Nam cũng sớm xuất hiện trào lưu “giải kinh học” “giải huyền thoại” bởi chắc hẳn Hồ Quý Li đã có những nỗ lực để thoát khỏi cái bóng kinh học của Chu Hi. Tiếc rằng đây cũng chỉ là ức đoán bởi hiện không còn tác phẩm Quốc ngữ Thi nghĩa để kiểm chứng.   

        Xét về mặt ngôn ngữ phiên dịch biểu hiện rõ rệt nhất cho việc kinh học hóa Kinh Thi là việc các bản truyện chú bằng chữ Hán đã có xu hướng “đặc chỉ hóa” các từ phiếm chỉ trong Kinh Thi khi đó các nhân vật vốn là phiếm chỉ trong tác phẩm đã được “bắt vít” với các nhân vật lịch sử đặc chỉ (Văn Vương Thái Tự Trang Khương Vệ Trang công…). Với những dịch phẩm Kinh Thi hiện còn nếu chỉ tính riêng trong phần văn dịch chữ Nôm mà bỏ qua những phần cước chú Hán văn (đối với bốn bản diễn xuôi) thì xu hướng này cũng khá đậm nét ví dụ:  

Stt thiên.

Câu

Nguyên bản – 

Dịch nghĩa

Bốn bản dịch xuôi (miễn ghi vị trí) Bản dịch thơ AB.169 Bản dịch thơ A.1122
28.9   Người con gái ấy về nhà chồng Nàng Đái Vĩ chưng khi trở về Ả kia về nước xa đưa theo [cùng] (32b) Đưa nàng Đái Vĩ về không (46b)
28.10 Tiễn đưa nàng một quãng xa Bà  Trang Khương xa đưa đấy Xa xa trông ngóng ngập ngừng lòng ta. (46b)
30.1 Gió thổi suốt ngày và dữ dội Tính Trang công như gió trọn ngày vả kíp Trọn ngày như  gió đùng đùng (35b) Trọn ngày gió  dữ lắm ôi (47a)
49.3 Người ấy vô lương Công tử  Ngoan kia chưng chẳng lành Người kia chưng nết chẳng lành (62a) Tuyên Khương công tử là người vô lương (51b)
49.7 Người ấy vô lương Tuyên Khương kia chưng chẳng lành
57.1 Người đẹp đẽ  đã trưởng thành Người cả  là Trang Khương thửa tốt ngồn ngộn Ả kia người lớn vả dài (75b) Người to tốt  đẹp thung dung (53b)
116.4 Theo ngài ở đất Ốc Theo ngươi Hoàn Thúc chưng đất (Khúc) Ốc Theo cùng ra Ốc Hộc với ngơi (139b) Theo ngươi Hoàn Thúc tới vào Ốc đô (65b)
130.3 Người quân tử đến 130.3 Tần Tương công đến đấy Người quân tử  đến nơi dưới núi (156b) Vua ta kia đã tới nay (68b)
134.1 Ta tiễn đưa cậu ta đi Ta là  Tần Khang công đưa nhà cậu Trùng Nhĩ Đưa cữu thị trở về Tấn quốc (161a) Ta đi hộ cậu lên đường (69b)
144.1 Làm gì ở đất Chu Lâm? Trần Linh công làm sao vậy mà đi đất Chu Lâm Làm sao đến đất Chu Lâm (168b) Làm sao vậy  ấp Chu Lâm (71a)
  
 
 

      Trong 10 trường hợp các bản diễn xuôi đã “đặc chỉ hóa” các từ phiếm chỉ như trên thì bản dịch thơ Thập ngũ Quốc Phong diễn âm (AB.169) chỉ có 1 trường hợp bản dịch thơ Thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc (A.1122) cũng chỉ có 4 trường hợp.  

      Trong các bản diễn thơ đáng chú ý là bản Thi kinh thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc được chép tay trong kí hiệu sách A.1122 dịch thơ trọn vẹn 160 thiên phần Quốc Phong thống nhất theo thể lục bát. Kết thúc phần dịch của mỗi thiên là một câu lục (chứ không phải câu bát như thông lệ) có nội dung thường không nằm trong nội dung nguyên bản Hán văn Kinh Thi mà hoặc là một ý kiến đánh giá của dịch giả về tông chỉ của thiên đó hoặc nói rõ thiên ấy có liên hệ như thế nào với những thiên khác ví dụ với 20 thiên đầu tiên:  

Stt thiên Tên thiên Câu lục kết thúc mỗi thiên trong bản dịch A.1122 Vai trò của câu kết
1              Quan thư Ba trăm chép  để đầu thiên Giới thiệu đây là thiên đầu
2              Cát  đàm Kiệm cần hiếu kính khả quan Đánh giá về tông chỉ của thiên
3              Quyển nhĩ Ta ngồi rót chén kim lôi Thuộc nội dung thiên
4              Nam hữu cưu mộc Nối tương phúc lí  ngày thêm Thuộc nội dung thiên
5              Chung tư Đức dầy con cháu lắm thay Thuộc nội dung thiên
6              Đào yêu Cửa nhà  thuận hợp hòa vui Thuộc nội dung thiên
7              Thố  tư Đồng tâm đồng đức chan chan Thuộc nội dung thiên
8              Phù  dĩ Hòa bình vô  sự cùng vui Đánh giá về tông chỉ của thiên
9              Hán quảng Sông dài chẳng khá  vượt ngang Thuộc nội dung thiên
10          Nhữ  phần Đã về chẳng bỏ xa ta Thuộc nội dung thiên
11          Lân chi chỉ Chân chân nhân hậu hữu dư Đánh giá về tông chỉ của thiên
12          Thước sào Thơ  này ứng với “Thư  cưu” Liên hệ với thiên khác
13          Thái phiền Thi trung họa xuất hiền phi Đánh giá về tông chỉ của thiên
14          Thảo trùng So cùng “Quyển nhĩ” như in Liên hệ với thiên khác
15          Thái tần Tam tòng tứ  đức gồm no Đánh giá về tông chỉ của thiên
16          Cam đường Càng lâu tức thấm càng sâu Đánh giá về tông chỉ của thiên
17          Hành lộ Lòng ngay như  đá không xiêu Đánh giá về tông chỉ của thiên
18          Cao dương Trong triều còn lắm người hay Đánh giá về tông chỉ của thiên
19          Ân kì lôi<

More...

Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của Kinh Thi trong văn chương chữ Nôm Việt Nam.

By

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA  KINH THI

TRONG VĂN CHƯƠNG CHỮ NÔM VIỆTNAM   

ĐỖ THỊ BÍCH TUYỂN

                                                                                                                                      Viện Nghiên cứu Hán Nôm

    I. Giới thiệu sơ lược về  Kinh Thi        

Theo các nhà nghiên cứu Kinh Thi ở Trung Quốc thì Kinh Thi vốn là lời những bài dân ca được lưu truyền trong dân gian từ đầu thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu tức khoảng từ thế kỷ XI đến thế kỷ VI trước công nguyên. Từ lĩnh vực dân gian được chuyển sang lĩnh vực thành văn hơn nữa còn được xếp vào loại sách kinh điển Kinh Thi đã trải qua quá trình sưu tầm chỉnh lý biên soạn khá phức tạp. Tuy nhiên chúng tôi không bàn vấn đề đó ở đây chỉ biết rằng bộ Kinh Thi chúng ta được biết đến ngày nay do Khổng Tử đã san định và để lại cho đời.

    Với các nhà nghiên cứu về Nho học Trung Quốc Kinh Thi luôn được coi là tấm gương sáng cho muôn đời soi vào. Các sách kinh điển của Trung Quốc như Đại học Trung Dung Luận ngữ Mạnh Tử đều dẫn Kinh Thi làm bằng chứng. Sách Luận ngữ - Dương Hóa có câu: “Thi khả dĩ hưng khả dĩ quan khả dĩ quần khả dĩ oán nhĩ chi sự phụ viễn chi sự quân đa chí ư điểu thú thảo mộc chi danh” nghĩa là: xem Kinh Thi có thể phấn khởi được ý chí xem xét được việc hay dở hòa hợp với mọi người bày tỏ nỗi sầu oán gần thì học việc thờ cha xa thì học việc thờ vua lại biết được nhiều tên chim muông cỏ cây.

    Sách Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp là tác phẩm lý luận văn học vĩ đại của Trung Quốc xuất hiện cách chúng ta hơn một nghìn năm đã từng biện giải tán tụng về Kinh Thi coi đó như khuôn mẫu chuẩn mực cho các sáng tác(1). Sách Tam tự kinh một cuốn sách giáo khoa khải mông từng nhận định “Vi học giả tất hữu sơ. Tiểu học chung chí Tứ thư. Hiếu kinh thông Tứ thư thục. Như Lục kinh thủy khả độc: Thi Thư Lễ Dịch Xuân Thu hiệu Lục kinh đương giảng cầu” nghĩa là: Người đi học tất có đầu. Xong Tiểu học đến Tứ thư. Thông Hiếu kinh thuộc Tứ thư. Đến Lục kinh mới được học. Thi Thư Lễ Dịch Xuân Thu gọi Lục kinh cần giảng đọc(2).

    Có  thể nói mức độ ảnh hưởng của Kinh Thi đối với sáng tác văn học đời sau ở Trung Quốc là rất lớn từ văn học các đời Hán Nam Bắc Triều Tùy Đường Tống Nguyên Minh Thanh cho đến nay thơ văn thời nào cũng tiếp thu tinh hoa của Kinh Thi. Không những thế Kinh Thi còn có ảnh hưởng rất lớn đối với nền văn học và văn hóa các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam.

    II. Kinh Thi với văn học Việt Nam

    Khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam thì Kinh Thi cùng với các bộ sách kinh điển khác đã trở thành khuôn vàng thước ngọc cho hệ tư tưởng Nho giáo và sáng tác văn chương ở nước ta. Trong Vân đài loại ngữ Lê Quý Đôn từng viết: “Tự hữu văn tự tiện hữu thư tịch. Ngũ kinh Ngữ Mạnh thành như nhật nguyệt” nghĩa là: Từ khi có văn tự thì có sách vở. Sách Ngũ kinh sách Luận ngữ và Mạnh tử thật như mặt trời mặt trăng sáng chói”(3).         

Là một người hiểu rộng về Kinh Thi Lê Quý Đôn còn cho rằng: “Thơ khởi phát từ trong lòng ta. Ba trăm bài thơ trong Kinh Thi phần nhiều là của nông dân phụ nữ làm ra mà cũng có những bài các văn sĩ đời sau không theo kịp được như thế là vì nó chân thực”(4).         

Hơn nữa các thể phú tỷ hứng trong Kinh Thi thường được xem là tiêu biểu cho các thể loại sáng tác sau này. Như Lê Quý Đôn đã đưa ra nhận xét như sau: “Sách Văn tâm điêu long chép: Luận thuyết từ tự thì Kinh Dịch làm đầu; chiếu sách chương tấu thì Kinh Thư làm đầu; phú tụng ca tán thì Kinh Thi dựng thể cách...”(5)         

Với tất cả những gì tinh tuý và thuần mĩ   Kinh Thi được coi là khuôn mẫu cho sáng tác của các nho sĩ Việt Nam. Cùng với các bộ sách kinh điển khác của Nho giáo Kinh Thi từng được dùng làm đề tài trong khoa cử của Việt Nam. Trong sách Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu hiện chúng tôi tìm thấy hai đầu sách:        

1. Thi Kinh sách lược 詩經策略 ký hiệu VHv.385 nội dung: tuyển chọn 350 bài văn sách đề tài lấy ở các thiên trong Kinh Thi.        

2. Thi Thư sách lược 詩書策略 ký hiệu VHv.433 nội dung: tuyển 180 bài văn sách đề tài lấy trong Kinh ThiKinh Thư.        

 Ở  một vài sách khác các tác giả cũng sử dụng Kinh Thi cho mục đích biên soạn của mình như trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn soạn năm 1777 nội dung ghi chép về chính trị giáo hóa phẩm hạnh lễ nghi quan chế... trong đó có những đoạn bàn về Tứ thưNgũ Kinh (trong đó có Kinh Thi). Học giả Nhàn Vân Đình Trần Duy Vôn khi biên soạn sách Đế vương bảo giám 帝王寶監dâng vua có trích dẫn Kinh Thi làm tài liệu để bàn luận.v.v.        

Ngoài ra còn rất nhiều sách nói đến Kinh Thi nhưng không viết riêng biệt mà gộp lại cả trong Ngũ kinh như:        

1. Ngũ kinh loại thuyết 五經類 ký hiệu A.2223 chép những bài văn sách đề tài lấy trong Ngũ kinh.        

2. Ngũ kinh tiết yếu 五經節要 ký hiệu AC.442/1-20 do Bùi Huy Bích soạn trong đó có phần: Thi kinh đại toàn 696 trang 4 quyển ghi những điểm cốt yếu của Kinh Thi.        

3. Ngũ kinh xuyến châu tự 五經串珠序 ký hiệu A.1633 giới thiệu ý nghĩa mục đích và giá trị của Ngũ kinh.        

Với những gì mà sách Tam tự kinh đã dẫn ở trên ở nước ta Kinh Thi còn được dùng làm giáo trình giảng dạy trong các trường đại học từ trước tới nay và có lẽ còn mãi về sau.         

III. Ảnh hưởng của Kinh Thi trong văn chương chữ Nôm         

Theo sử  sách nước ta ngay từ thời nhà Hồ vua Hồ  Quý Ly đã cho dịch thiên Vô dật trong Kinh Thư dịch Kinh Thi và viết sách Thi Nghĩa bằng chữ Nôm (nhưng rất tiếc nay không còn nữa). Sang thế kỷ XVIII vua Quang Trung đã xuống chiếu sai Viện trưởng Sùng Chính viện là học giả La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp dịch Kinh Thi ra chữ Nôm khắc in năm Quang Trung 5 (1792). Số sách dịch hiện nay không còn nhưng những tờ chiếu về việc này thì vẫn còn được lưu giữ(6). Tuy nhiên GS. Nguyễn Quang Hồng đã phát hiện ra một bản Thi Kinh giải âm có niên đại sớm hơn tức là ván khắc năm Vĩnh Thịnh 10 nhà Lê (1714)(7) được lưu giữ ở kho sách Hán Nôm của Viện Văn học. Điều đó có thể thấy rằng ở nước ta Kinh Thi đã được diễn Nôm rất sớm và công phu. Qua thống kê sơ bộ trong kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm chúng tôi tập hợp được 6 bản. Cụ thể là:        

1. Thi kinh diễn âm 詩經演音 ký hiệu AB.137        

2. Thi kinh chính văn truyền chú diễn âm 詩經正文傳注演音 ký hiệu AB.169 diễn theo thể thơ lục bát và song thất lục bát.        

3. Thi kinh giải âm 詩經解音 in năm Quang Trung 5 (1792) ký hiệu AB.144/1-5 dịch và chú thích toàn bộ Kinh Thi bằng chữ Nôm.        

4 . Thi kinh Thư kinh quốc ngữ ca 詩經書經國語歌 ký hiệu AB.523       

5. Thi kinh Thư kinh quốc ngữ ca 詩經書經國語歌 ký hiệu AB.151       

6. Thi Kinh diễn nghĩa 詩經演義 ký hiệu AB.168/1-2 in năm Minh Mệnh 18 (1837)       

Ngoài ra trong Ba Thi quốc ngữ ca 葩詩國語歌 ký hiệu AB.360 còn có phần diễn Nôm 31 bài thơ trong Kinh Thi.         

Trong quá trình thâm nhập các văn bản diễn Nôm bộ sách Kinh Thi chúng tôi nhận thấy đây có thể coi là những bản dịch Kinh Thi tương đối chuẩn xác đáng để những dịch giả đời sau và chúng ta tham khảo học tập. Lấy sách Thi kinh chính văn truyền chú diễn âm để khảo sát chúng tôi sẽ đưa ra một số ví dụ để chứng minh điều đó.

Bài diễn Nôm Quan thư:

         Chim kêu trên bãi sông Hà

         Gái lành quân tử thật là  tốt đôi.

         Trước kia tìm chửa được ai

         So le hạnh thái ngược xuôi thuận dòng.

         Tìm chưa được mỏi mong cưu nhớ

         Dằng dặc thay trăn trở không yên.

         Rau hái được tay liền hái nấu

         Tìm được người tĩnh diệu mừng sao.

         Cầm sắt ngụ ý thân yêu

         Lại đem chuông trống dập dìu khua vui.        

Kinh Thi với tính chất là một loại hình ca dao cổ của Trung Quốc nên lời thơ lặp lại qua nhiều chương. Ở bản diễn Nôm này tác giả đã khúc triết lắp ghép rất tài tình ngắn gọn mà vẫn đầy đủ ý nghĩa. Ví dụ trong bài Đào yêu có 3 chương chương 1 đề cập đến hoa đào chương 2 quả đào chương 3 lá đào. Ở phần diễn Nôm chỉ cần 1 câu mà đã hội tụ được tất cả.        

Cây  đào non sắc tươi mơn mởn        

Hoa thịnh nhiều quả tốt đông.        

 Ả  kia về ở nhà chồng        

Hẳn rằng hiếu kính nên trong cửa nhà.

    Được đánh giá là tinh hoa của nhân loại Kinh Thi có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học nước ta đặc biệt là trong văn chương chữ Nôm (hay còn gọi là văn chương quốc âm). Với tính chất là loại văn chương sử dụng ngôn ngữ và thứ chữ dân tộc văn chương quốc âm phản ánh khá đầy đủ các mặt sinh hoạt trong cuộc sống của nhân dân. Các mặt sinh hoạt này hầu hết đều được phô diễn bằng cách mượn những điển tích những từ Hán lấy trong các thư tịch cổ Trung Quốc. Đó là một thực tế dễ hiểu vì dân tộc ta sống trong nghìn năm Bắc thuộc lại tiếp thu những ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc từ bao thế kỷ nay.

    Ở hầu hết các tác phẩm Nôm chúng ta đều thấy dấu ấn của Kinh Thi rất đậm nét: khi thì mượn ý tứ để sáng tác khi thì mượn nguyên vần có câu lấy 2 đến 3 hình ảnh trong Kinh Thi thậm chí có bài phú lấy hầu hết ý trong Kinh Thi để thể hiện ý đồ sáng tác. Tác giả văn Nôm vừa sử dụng câu chữ vừa sử dụng cấu tứ trong Kinh Thi để làm phong phú tác phẩm của mình.

    Chẳng hạn nói đến việc con gái đến tuổi cập kê  về nhà chồng văn Nôm có dùng các từ:  đào yêu đào non nghi gia gia thất mai phiếu hạnh thái... Nói đến công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ thường sử dụng các từ: cù lao chín chữ sinh ngã... Đây chưa phải là các từ đã ghi lại đầy đủ các yếu tố ngôn ngữ về những mặt này mà chỉ là những điển những chữ thường dùng khi nói về các việc đó nhưng nó lại mang tính chất tiêu biểu.        

Trong khuôn khổ của bài viết này chúng tôi chưa thể đưa ra hết tất cả những dẫn chứng cụ thể chỉ  xin đưa ra vài trường hợp nổi bật thường xuất hiện trên các tác phẩm văn học Nôm.        

+ Chữ  Đào yêu:        

 Đây là chữ trong bài Đào yêu thơ Quốc phong khen người con gái đến tuổi lập gia đình yên bề gia thất. Qua khảo sát một số văn bản Nôm chúng tôi nhận thấy chỉ riêng trong truyện Kiều đã có đến không dưới 7 lần hiện tượng đào yêu được xuất hiện. Ví dụ:        

- Quả  mai ba bảy đương vừa          

  Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.

Hay:         

- Những từ sen ngó đào tơ          

Mười lăm năm mới bây giờ là đây.        

 Ở  đây Thúy Kiều không phải mới đến tuần cập kê nhưng trải qua dâu bể mười lăm năm lưu lạc nàng mới bắt đầu được hưởng niềm hạnh phúc bình dị của người con gái đến tuổi gả chồng. Đại thi hào Nguyễn Du không phải không có lý khi dùng từ sen ngó đào tơ để gán cho Kiều khi nàng được tái sinh.        

Còn  ở Đại Nam quốc sử diễn ca ngay ở phần mở đầu đã có câu:        

Vụ  Tiên vừa thủa đào yêu        

Xe loan nối gót tơ điều kết duyên.        

Nói  đến người con gái đang độ cập kê đến tuổi gả chồng có thể nói không gì thay thế  được từ đào yêu và biến tự của nó như đào tơ đào non thơ đào... Nó quen thuộc đến mức khi các tác giả nước ta sáng tác nói đến con gái tuổi cập kê về nhà chồng hầu như không ai không thốt ra lời thơ gắn với những từ này.         

Ngoài ra trong một số tác phẩm khác như Nhị độ mai Phạm Tải Ngọc Hoa Liệt nữ truyện đều thấy nói đến đào yêu thơ đào...        

Chẳng hạn:         

- Thơ  đào ngợi chữ vu quy        

Ban thêm châu ngọc cho về thành thân. (Nhị độ mai)        

-  Nàng rằng từ thuở tương kỳ        

  Đào yêu hẹn ước kịp kỳ nghi gia. (Liệt nữ truyện)        

Hay ở  một số bài phú Nôm chữ đào yêu cũng được sử dụng hết sức hữu tình:        

Nay: Vừa thủa đào yêu        

Chưng khi nguyệt dãi. (Tất kính tất giới vu vi phu tử phú)        

- Chẳng thấy chữ đào yêu mà liệu        

 Ắt  đến câu mai phiếu hẳn rồi. (Dục giá phú)        

Trong những ví dụ nêu trên chúng ta thấy có câu tác giả  mượn trọn ý tứ trong Kinh Thi để thể hiện như hình tượng Quả mai ba bảyĐào non hay Đào yêuMai phiếu (trong bài Phiếu hữu mai). Có thể nói dấu ấn Kinh Thi đậm nét trong tứ thơ làm cho câu thơ thêm xúc tích và truyền cảm.        

+ Chữ  Lân chỉ: Gót lân        

 Đây là chữ trong bài Lân chi chỉ trong thơ Quốc phong ý khen con lân hiền lành nhân hậu nên chân của nó cũng nhân hậu qua đó hàm ý khen ngợi gia đình và họ hàng có con cháu dòng dõi hiền tài đức độ. Hình tượng này xuất hiện trong những tác phẩm có nói đến việc sinh ra được con cháu thảo hiền nhưng một mặt nào đó cũng khẳng định đẳng cấp con nhà danh giá tông tộc.         

- Đông hàng lông phượng gót lân        

Kìa nhà  ngũ quế nọ sân bát đồng (Nhị độ mai)        

- Cơ  đồ vững đặt muôn năm        

Chung tư   lân chỉ sinh trăm mối ngàn. (TNC)        

- Trăm năm biết mấy tinh thần        

  Sinh con sau nối gót lân đời đời. (Lục Vân Tiên)         

- Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm         

 Đầu mũ mao mình tấm áo da. (Ai tư vãn)       

  - Thưa rằng cảm nỗi dây dưa        

 Đoái câu lân chỉ nhà chưa phỉ nguyền. (Dương Từ Hà Mậu)...        

Có thể  nói việc sử dụng điển tích đã làm cho tác phẩm sang lên. Hơn nữa việc sử dụng đúng lúc đúng chỗ càng làm cho giá trị của tác phẩm được đẩy lên cao và càng thể hiện được sự uyên bác của tác giả đã sản sinh ra nó.        

+ Chữ  Thuyền bách:        

Vốn dịch nghĩa từ chữ Bách chu trong bài Bách chu trong thơ Bội phong: Phiếm bỉ bách chu diệc phiếm kỳ lưu nghĩa là:         

Chiếc thuyền gỗ bách chơi vơi        

Xuôi theo dòng nước nổi trôi mặc lòng.        

Với  ý tứ như vậy văn Nôm mượn hình tượng này để miêu tả thân phận người con gái long đong trải qua dâu bể không biết về nơi đâu hoặc quá tuổi cập kê nhỡ thì chẳng biết nương về chốn nào.         

- Lênh đênh thuyền bách         

Lục cục sào mai. (Nữ tử quá thì tự hối phú)        

- Nàng rằng chiếc bách sóng đào        

 Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may. (Truyện Kiều)        

- Quản bao một chiếc bách châu        

Lênh đênh giữa vực mặc dầu mây mưa. (Dương Từ Hà Mậu)        

v.v.        

Trên  đây chỉ là một số dẫn chứng tiêu biểu thường được sử dụng trong những sáng tác thơ Nôm ca Nôm truyện Nôm. Ngoài ra trong thể văn Nôm biền ngẫu như văn tế hịch... chúng ta cũng tìm thấy các tác giả sử dụng ngữ liệu trong Kinh Thi.        

Theo đánh giá của học giả Dương Quảng Hàm thì  Kinh Thi là “một kho điển tích” mà càng khai thác càng thấy phong phú vô tận. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một đoạn của bài phú Nôm chép trong gia phả họ Nguyễn - Thanh Mục đường ở Thanh Trì Hà Nội(8) để minh hoạ thêm cho nhận định này. Nội dung bài phú lấy nhiều cứ liệu trong Kinh Thi để sáng tác. Đó là bài phú về bà Trang Khương. Trong đó có những câu như:         

- Mở  quyển Bội phong một quyển        

Khen bà  Khương Thị đàn bà.        

Hay:        

 “Kìa  Đái Quy là thê thiếp mà Khương Thị là  phu nhân duyên kiều cát đã rành rành phiên gác rộng;         

Nọ  Trang Công là tiên công mà Hoàn Công là kỷ  tử tiếng cư hành từng thăm thẳm chốn lầu cao”.         

Nguyên nghĩa trong thơ Bội phong nàng Đái Quy là thiếp còn Khương Thị là phu nhân nhưng lại không được vua Trang Công báo đáp ân tình. Nàng Đái Quy hiền thục lấy lòng tưởng nhớ tiên quân để khuyên Khương Thị gượng gắng khiến cho bà thường nhớ đến để vững vàng tâm chí. Bài thơ vì thế mà đôn hậu. Ý tứ của bài thơ đã được tác giả bài phú tiếp nhận để hình thành sáng tác răn dạy cháu con lấy làm gương mẫu mực để giáo huấn. Vì thế mà Kinh Thi được đề cao ca ngợi: Lấy việc chính đáng đức nhân mà tu thân lấy việc dâm tà lả lơi mà răn mình xa lánh.        

Kết luận        

Theo nhận xét của GS. Thạch Giang: “Điển cố và chữ  sách sử dụng trong văn bản Nôm xét về mặt ngôn ngữ học thì đều là những giá trị đã định hình và đã thể nghiệm được ghi chép trong sử sách. Nó đã được phổ biến và trở thành mẫu mực”. Vì vậy khi tìm hiểu về dấu ấn Kinh Thi trong văn chương chữ Nôm chúng tôi muốn phần nào khẳng định giá trị của những tác phẩm kinh điển bất hủ đang được lưu truyền từ ngàn đời xưa đến nay. Mặt khác chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng thế hệ chúng ta ngày nay nên biết học hỏi tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm phong phú cho nền văn học nước nhà.

Chú  thích:

  (1) Xem Văn tâm điêu long bản dịch của Phan Ngọc Nxb. Văn học 1997.

  (2) Xem Ngữ văn Hán Nôm tập 2 Ngũ Kinh tr.87. Trần Lê Sáng chủ biên.

  (3) Lê Quý Đôn Vân đài loại ngữ tập 1 tr.31 bản dịch Nxb. Văn hóa 1962.

  (4) Lê Quý Đôn Vân đài loại ngữ tập 1 tr.251 bản dịch. Nxb. Văn hóa 1962.

  (5) Lê Quý Đôn Vân đài loại ngữ tập 2 tr.103 bản dịch. Nxb. Văn hóa 1962.

  (6) Xem: Hoàng Xuân Hãn La Sơn phu tử Nxb. Minh Tân H. 1950.

  (7) Xem: Nguyễn Quang Hồng... Thi Kinh giải âm văn bản sớm nhất hiện còn khắc in năm Vĩnh Thịnh 1714 Tạp chí Hán Nôm số 3/2005.

  (8) Xem Gia phả họ Nguyễn-Thanh Trì Đỗ Thị Bích Tuyển Nguyễn Thị Dương dịch Nguyễn Hữu Tưởng hiệu đính. Tư liệu hiện được lưu giữ ở Thư viện Hán Nôm.

Tài liệu tham khảo:

  [1]Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu PGS. Trần Nghĩa đồng chủ biên Nxb. KHXH H. 1993.

  [2]Điển nghĩa văn học Nôm Việt Nam Nxb. Từ điển bách khoa 2002.

  [3]Kinh Thi Nxb. Văn học 2004.

  [4]Ngữ văn Hán Nôm tập 1-2 Trần Lê Sáng chủ biên Nxb KHXH H. 2002.

  [5]Từ ngữ điển cổ văn học Nxb. Văn học 1999.

  [6]Từ ngữ văn Nôm Nxb. KHXH H. 1993.

  [7]Thư tịch Hán Nôm Việt Nam luận giải về Tứ thư và Ngũ kinh hiện có ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm Trịnh Khắc Mạnh Tạp chí Hán Nôm số 1/2005.

  [8]Truyện Kiều Nguyễn Thạch Giang phiên âm chú giải Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp 1976.

  [9]Việt Nam văn học sử yếu Dương Quảng Hàm Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp 1993./.

                                Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.643-654)

 

 

More...

Nguồn gốc Kinh Thi.

By

Nguồn gốc Kinh Thi

Kinh Thi là một bộ  sách gồm có những câu ca dao rất cổ của Trung Hoa. Ngày xưa Thiên tử cứ năm năm đi tuần thú một lần và ra lệnh cho quan Thái sư hiến dâng ca dao để xem phong tục của dân. Chư hầu nhặt những câu thi ca ấy để hiến lên Thiên tử Thiên tử tiếp nhận và liệt vào nhạc quan lấy cái đó để xét phong tục tốt hay xấu biết việc chính trị nên hư.

Theo lời dẫn trên thì  những bài ca dao trong Kinh Thi đã được sưu tập trước thời Khổng Tử. Nguyên nhan đề là Thi chứ không có chữ Kinh. Người ta thêm chữ ấy vì cho rằng cho Kinh Thi được Khổng Tử san định.

[sửa] Khổng Tử và Kinh Thi

Thiên Khổng Tử thế gia trong Sử ký của Tư Mã Thiên có chép:

    Tam bách ngũ  thiên Khổng Tử giai huyền ca chi dĩ  cầu hợp Thiều Vũ Nha Tụng chi âm.

    (Khổng Tử đã  đem 305 thiên trong Kinh Thi ra mà đàn ca để hợp với âm của Thiều Vũ Nhã Tụng.)

Thiên tử hãn trong Luận ngữ cũng có dẫn lời của Khổng Tử:

    Ngô  tự Vệ phản Lỗ nhiên hậu nhạc chính Nhã  Tụng các đắc kỳ sở.

    (Ta từ nước Vệ  trở về Lỗ nhiên hậu nhạc mới được chỉnh đốn lại Nhã Tụng được đặt đúng chỗ.)

Như vậy Khổng Tử  đã từng nghiên cứu âm nhạc và đem thi ca phổ thành nhạc khúc. Việc Khổng Tử san định Kinh Thi cũng có thấy chép trong thiên Khổng Tử thế gia của sách Sử ký:

    Cổ  giả Thi tam thiên dư  thiên cập chí Khổng Tử khứ  kỳ trùng thủ khả  thi ư lễ nghĩa thượng thái Tiết Hậu Tắc trung thuật Ân Chu chi thịnh chí  U Lệ chi khuyết... tam bách ngũ thiên.

    (Ngày xưa Thi có  hơn ba ngàn thiên Khổng Tử san khứ phần trùng phúc chỉ lấy những thiên hợp với lễ nghĩa trước nhặt các bài từ đời Tiết Hậu Tắc kế  đến các bài thuật sự hưng thịnh đời Ân Chu sau là các bài nói về sự khuyết điểm của U vương và Lệ vương... gom có ba trăm lẻ năm thiên.)

Lục Đức Minh trong Kinh điển thích văn cũng viết:

    Khổng Tử  tối tiên san lục ký thủ  Chu thượng kiêm Thương tụng phàm tam bách thập nhất thiên.

    (Khổng Tử san lục Kinh Thi trước hết chọn lấy những bài về đời Chu lại lấy cả những bài Thương tụng phàm ba trăm mười một thiên.)

Người ta thường vịnh vào các thuyết trên này để cho rằng Khổng Tử  có san định Kinh Thi. Tuy nhiên một số học giả như Khổng Dĩnh Đạt Trịnh Tiều Chu Hy Chu Di Tôn Thôi Thuật... vẫn còn hoài nghi việc đó vì Khổng Tử chưa bao giờ nói đến việc mình san định Kinh Thi. Vả lại Thi có hơn ba ngàn thiên Khổng Tử chỉ chọn lấy ba trăm thiên vậy là bỏ đi chín phần mười chẳng khác nào phá họai một kho tàng văn học phong phú thời cổ. Hơn nữa Sử ký của Tư Mã Thiên tuy có nói đến việc Khổng Tử san định Thi nhưng cũng cho ta biết rằng trong thời Xuân Thu thi ca bị tàn khuyết rất nhiều. Vì thế cho nên trong Độc phong ngẫu chí Thôi Thuật đã biện minh việc Khổng Tử san Thi như sau:

    Khổng Tử  san thi thục ngôn chi? Khổng Tử  vị thường tự ngôn chi dã Sử  ký ngôn chi nhĩ Khổng Tử  viết: "Trịnh thanh dâm" thị Trịnh dâm thi dã. Khổng Tử viết: "Tụng Thi tam bách" thị chi hữu tam bách Khổng Tử vị thường san dã. Học giả bất tín Khổng Tử sở tự ngôn nhi tín tha nhân chi ngôn thậm hỹ kỳ khả quái dã!

    (Ai bảo Khổng Tử  có san định Kinh Thi? Việc đó thấy chép trong Sử ký chứ Khổng Tử chưa khi nào nói đến. Khổng Tử nói: "Tiếng nước Trịnh dâm" ấy là nước Trịnh có nhiều thi ca dâm dật. Khổng Tử nói: "Đọc Thi ba trăm thiên" ấy là Thi có ba trăm thiên chứ Khổng Tử chưa từng san định. Học giả không tin lời Khổng Tử mà tin lời người khác thật là điều quái gở!)

Cho nên có thể  tin rằng những bài thi ca xưa đến thời Khổng Tử  bị tàn khuyết rất nhiều chỉ còn lại chừng ba trăm thiên. Nếu Khổng Tử có chỉnh lý Kinh Thi thì cũng chỉ bớt những câu tối nghĩa hoặc rườm rà chứ không phải chọn lấy một phần mười như Tư Mã Thiên đã viết.

[sửa] Các bản Kinh Thi

Về đời nhà Hán có bốn bản Kinh Thi xuất hiện:

  1. Lỗ Thi do Thân Bồi người nước Lỗ chú giải.
  2. Tề Thi do Viên Cố Sinh người nước Tề chú giải.
  3. Hàn Thi do Hàn Anh chú giải.
  4. Mao Thi do Mao Công (tức Mao Hanh và Mao Trường) chú giải.

Ba bản Lỗ Thi Tề ThiHàn Thi là kim văn còn bản của Mao Công là cổ văn. Về sau Lỗ Thi mất về đời nhà Tần Tề Thi mất về đời nhà Ngụy Hàn Thi mất về đời Ngũ đại chỉ còn Mao Thi còn truyền đến ngày nay.

[sửa] Nội dung Kinh Thi

Kinh Thi gồm có 311 thiên. Trong số đó chỉ có 305 thiên là đầy đủ còn 6 thiên kia chỉ có đề mục nhưng không có lời. Theo bản Mao Thi Kinh Thi gồm có ba phần như sau:

[sửa] Quốc phong

Quốc phong là những bài ca dao của dân tộc các nước chư hầu đuợc nhạc quan sưu tập. Quốc phong có 160 thiên chia làm 15 quyển mỗi quyển một nước gồm có:

  1. Chính phong: Chu nam và Thiệu nam.
  2. Biến phong: Bội phong Dung phong Vệ phong Vương phong Trịnh phong Tề phong Ngụy phong Đường phong Tần phong Cối phong Tào phong Mân phong.

[sửa] Nhã

Nhã nghĩa là chính đính gồm những bài hát nơi triều đình. Nhã chia ra làm 2 phần:

  1. Tiểu nhã: những bài dùng trong trường hợp không quan trọng lắm như các buổi yến tiệc (74 thiên).
  2. Đại nhã: những bài dùng trong trường hợp quan trọng như khi Thiên tử hợp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường (31 thiên).

[sửa] Tụng

Tụng nghĩa là ngợi khen gồm những bài ca tụng các vua đời trước và dùng để hát ở chốn miếu đường. Tụng có tất cả 40 thiên chia làm:

  1. Chu tụng: 31 thiên.
  2. Lỗ tụng: 4 thiên.
  3. Thương tụng: 5 thiên.

Trong Kinh Thilục nghĩa là: Phong Nhã Tụng phú tỷ hứng. Phong Nhã Tụng là trỏ bộ phận của âm nhạc còn phú tỷ hứng tức là các thể của Phong Nhã Tụng.

Ba thể phú tỷhứng nói về kỹ thuật làm thơ. Chỉ rõ tên nói rõ việc ấy là phú. Thấy việc hư hỏng đương thời mà không dám nói rõ dùng phép so sánh kín đáo để phóng thích ấy là thể tỷ. Mượn vật để nói nên lời là thể hứng. Sự bất đồng giữa tỷhứng do ở điểm này: thể tỷ chỉ lấy vật làm tỷ dụ chứ không nói rõ ý chính thể hứng thì trước hết dùng phép tỷ dụ rồi nói rõ ý chính ra.

Thế là nội dung Kinh Thi gồm có ba phần lớn (Phong Nhã Tụng) và ba thể (phú tỷ hứng) mà cổ nhân đã gọi là sáu nghĩa của Kinh Thi. Riêng về Phong Nhã Tụng tuy có nhiều định nghĩa khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi học giả nhưng có thể thừa nhận cách phân lọai trong Mao Thi là tương đối hợp lý.

[sửa] Các thiên của Kinh Thi

Kinh thi có 311 thiên gồm 3 quyển: Thượng Trung Hạ. Quyển Thượng chép thơ Quốc phong quyển Trung gồm Đại nhãTiểu nhã và quyển Hạ là phần thơ Tụng.

[sửa] Thơ Quốc Phong

Gồm 159 thiên:

[sửa] Chu Nam

Có 11 thiên:

  1. Quan thư: Chồng nhớ vợ.
  2. Cát đàm: Phận sự người vợ lo dệt vải.
  3. Quyền nhỉ: Vợ nhớ chồng.
  4. Nam hữu cù mộc: Chúc người quân tử.
  5. Chung tư: Chúc đông con.
  6. Đào yêu: Khen thục nữ lập gia đình.
  7. Thố tứ: Khen người có tài cán.
  8. Phù dĩ: Phụ nữ an nhàn đi hái trái.
  9. Hàn quảng: Khen phụ nữ đã trở lại đoan trang được người kính nể.
  10. Nhữ phần: Vợ nhớ chồng vẫn trung thành.
  11. Lân chi chỉ: Khen tặng dòng dõi của Văn vương.

[sửa] Thiệu Nam

Có 14 thiên:

  1. Thước sào: Khen tặng người con gái chư hầu được lấy chồng.
  2. Thái phiên: Khen tặng vợ chư hầu lo việc cúng tế.
  3. Thảo trùng: Vợ quan đại phu ở nhà một mình mà nhớ chồng.
  4. Thái tần: Khen tặng vợ quan đại phu lo việc cúng tế.
  5. Cam đường: Kính giữ di tích của Thiệu Bá.
  6. Hành lộ: Con gái lấy lẽ giữ mình mà cự tuyệt người con trai vô lễ.
  7. Cao dương: Khen quan lại y phục bình thường dáng thảnh thơi tự đắc.
  8. Ẩn kỳ lôi: Vợ nhớ chồng mong chồng mau trở về.
  9. Biểu hữu mai: Con gái lo được gả kịp thời.
  10. Tiểu tinh: Phận thiếp được hầu hạ vua.
  11. Giang hữu tự: Vợ chính rước các hầu thiếp đi theo.
  12. Dã hữu tử khuân: Lời người con gái chế giễu người yêu.
  13. Hà bỉ nùng hĩ: Khen con gái nhà Chu cung kính hòa thuận đi lấy chồng.
  14. Trâu ngu: Chư hầu đi săn có nhân đạo.

[sửa] Bội Phong

Gồm 19 thiên:

  1. Bách chu: Tình cảnh người vợ cả bị bỏ rơi.
  2. Lục y: Tình cảnh vợ chính bị lạnh lùng còn hầu thiếp được thân mến.
  3. Yến yến: Vợ chính thương nhớ đưa tiễn nàng hầu thiếp về quê.
  4. Nhật nguyệt: Lời than thở của người vợ bị phụ phàng.
  5. Chung phong: Cảnh người vợ sống với người chồng cuồng si ngu dại.
  6. Kích cổ: Nỗi lòng người lính chiến phải xa cách vợ nhà.
  7. Khải phong: Lời con tự trách không khéo thờ mẹ để mẹ đi tái giá.
  8. Hùng trĩ: Vợ nhớ tưởng chồng đang đi làm ở xa.
  9. Bào hữu khổ diệp: Lời than của người bị gò bó tình yêu.
  10. Cốc phong: Nỗi lòng người vợ bị chồng đuổi đi.
  11. Thức vi: Lời của bề tôi trách vua chịu hèn hạ nương tựa nước ngoài.
  12. Mao khâu: Kẻ lưu vong trách nước ngoài không chịu tiếp cứu.
  13. Giản hề: Lời người hiền bất đắt chí chịu làm chức phận khiêm nhường.
  14. Tuyền thủy: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở nước xa nhớ nhà muốn trở về.
  15. Bắc môn: Cảnh nghèo khó của quan lại thời loạn.
  16. Bắc phong: Nước sắp loạn rủ nhau đi tỵ nạn.
  17. Tĩnh nữ: Lời ước hẹn tình yêu.
  18. Tân đài: Nỗi lòng người con gái gặp ông chồng hèn hạ loạn luân.
  19. Nhị tử thừa chu: Lời thương xót hai anh em giành nhau cái chết.

[sửa] Dung phong

Có 10 thiên:

  1. Bách chu: Lời người góa phụ thủ tiết.
  2. Tường hữu từ: Chê dâm ô trong bọn vua chúa.
  3. Quân tử giai lão: Tả dung sắc người đẹp mà kém đức hạnh.
  4. Tang trung: Lời ước hẹn tình yêu.
  5. Thuần chi bôn bôn: Lời trách kẻ loạn luân dâm ô.
  6. Đính chi phương tring: Khen vua chăm lo xây dựng quốc gia.
  7. Đế đống: Lời gái đi tìm người yêu.
  8. Tướng thử: Lời châm biếm kẻ vô lễ thiếu uy nghi.
  9. Can mao: Việc quan chức biết thăm viếng người hiền.
  10. Tái trì: Lời người con gái nóng lòng về thăm nước đã mất.

[sửa] Vệ phong

Có 10 thiên:

  1. Kỳ úc: Lời khen tặng vua tiến ích việc tu thân.
  2. Khảo bàn: Tình cảnh người hiền ở ẩn.
  3. Thạc nhân: Tả người đẹp và quyền quý được rước dâu.
  4. Manh: Lời người con gái trách người yêu phụ bạc.
  5. Trúc can: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở xa nhớ nhà.
  6. Hoàn lan: Lời châm biếm vua còn nhỏ mà tự kiêu.
  7. Hà quảng: Nhớ quê chồng.
  8. Bá hề: Nỗi lòng nhớ chồng.
  9. Hữu hồ: Nỗi lòng người quả phụ muốn tái giá.
  10. Mộc qua: Lời tặng đáp để kết giao với nhau.

[sửa] Vương phong

Có 10 thiên:

  1. Thử ly: Nỗi cảm xúc thời xưa đã điêu tàn.
  2. Quân tử vu vi: Nỗi nhớ chồng đi làm xa.
  3. Quân tử dương dương: Cảnh thanh nhã khi chồng về xum họp.
  4. Dương chi thủy:Nỗi lòng người lính đóng đồn ở xa nhớ vợ.
  5. Trung cốc hữu thôi: Lời than thở của người vợ bị đuổi bỏ.
  6. Thố viên: Nỗi lòng của người quân tử gặp thời loạn không vui sống.
  7. Cát lũy: Lời than thở của người dân trôi nổi trong thời loạn lạc.
  8. Thái cát: Tưởng nhớ tha thiết tình nhân.
  9. Đại xa: Đắm đuối yêu nhau nhưng còn sợ pháp luật không dám bày tỏ.
  10. Khâu trung hữu ma: Lời giễu yêu của cô gái khi tình nhân không đến.

[sửa] Trịnh phong

Gồm 20 thiên:

  1. Tri y: tình của nhân dân mến đãi quan hiền tài.
  2. Thương Trọng tử: bị gò bó cô gái dặn người yêu không nên đến nhà tìm.
  3. Thúc vu điền: lời khen tặng Cung Thúc Đoạn.
  4. Thanh nhân: tình cảnh quân đội rã rời nhụt chí chiến đấu.
  5. Cao cầu: lời khen tặng quan chức không đổi thay tiết tháo.
  6. Tuân đại lộ: người con gái trách chồng ruồng bỏ.
  7. Nữ viết kê mình: Vợ thương chồng lo phụng sự chồng chu đáo.
  8. Hữu nữ đồng xa: tả người con gái đẹp đi chung xe.
  9. Sơn hữu phù tô: lời con gái đang yêu trêu ghẹo tình nhân.
  10. Thác hề: người con gái nhiệt tình tỏ ý mời trai cùng ca hát nhảy múa.
  11. Giảo đồng: lời đùa giỡn giữa cô gái với người yêu.
  12. Khiên thường: lời cô gái vui đùa với người yêu.
  13. Phong: cô gái hối hận không đưa người yêu.
  14. Đông môn chi thiêu: cô gái tỏ tình với người yêu.
  15. Phong vũ: cô gái hả hê khi gặp người yêu.
  16. Tử khâm: cô gái mong nhớ người yêu.
  17. Dương chi thủy: khuyên gười yêu giữ trọn niềm tin giữa hai người.
  18. Xuất kỳ đông môn: lòng trung thành mến thương vợ.
  19. Dã hữu man thảo: trai gái gặp nhau và cũng vừa lòng thích ý.
  20. Trân vĩ: trai gái thừa dịp dạo chơi để trao ân tình.

[sửa] Tề phong

Gồm 11 thiên:

  1. Kê minh: lời người hiền phi khuyên vua dậy sớm.
  2. Tuyền: lời châm biếm vua quan ham săn bắn mà quên việc chính trị.
  3. Trử: chàng rể chờ rước cô dâu.
  4. Đông phương chi nhật: trai gái yêu nhau hoà thuận với nhau.
  5. Đông phương vị minh: lời châm biếm quan coi tính giờ sai.
  6. Nam Sơn: lời châm biếm bọn vua chúa anh em thông dâm.
  7. Phủ điền: lời khuyên chớ dục tốc mà bất đạt.
  8. Lô linh: lời khen tặng vua đi săn.
  9. Tệ cẩu: châm biếm người đàn bà loạn luân được tự do trở về thông dâm với anh ruột.
  10. Tái khu: châm biếm người đàn bà thông dâm với anh ruột.
  11. Y ta: khen Lỗ Trang Công đủ tài mà không ngăn được mẹ.

[sửa] Ngụy phong

Gồm 7 thiên:

  1. Cát cú: châm biếm người keo kiệt.
  2. Phần tứ nhu: châm biếm người cần kiệm không trúng lễ.
  3. Viên hữu đào: nỗi lo buồn của người hiểu biết với thời cuộc bấy giờ.
  4. Trắc hộ: nỗi lo buồn của cha mẹ anh em người đi quân dịch.
  5. Thập mẫu chi gian: chính trị hỗn loạn người hiền lo trở về ở ẩn.
  6. Phạt đàn: người quân tử chẳng chịu ngồi không mà hưởng.
  7. Thạc thử: dân chúng hận vua bội bạc mới bỏ đi nơi khác.

[sửa] Đường phong

Gồm 11 thiên:

  1. Tất suất: lời răn cũng nên vui chơi nhưng không nên thái quá phải lo công việc của mình.
  2. Sơn hữu xu: ai rồi cũng chết nên cũng nên vui chơi.
  3. Dương chi thủy: dân chúng chở che ủng hộ người quân tử dựng nước.
  4. Tiêu liêu: khen tặng cây tốt trái nhiều.
  5. Trù mậu: lời trai gái mừng rỡ vì được thành vợ chồng.
  6. Đệ đỗ: lời than trách của người không anh em mà cũng không được ai giúp đỡ.
  7. Cao cầu:lời than phiền quan lại hống hách không ưa dân.
  8. Vô y: lời kiêu ngạo của kẻ soán ngôi mà trở nên danh chính ngôn thuận do hối lộ.
  9. Hữu đệ chi đỗ: vua mong hậu đãi bậc hiền tài.
  10. Cát sinh: lời chung thủy của người vợ lính quân dịch mong nhớ chồng.
  11. Thái linh: chớ nghe gièm pha.

[sửa] Tần phong

Gồm 10 thiên:

  1. Xa lân: tìm được vua đáng thờ.
  2. Tứ thiết: vua tôi hòa hiệp cùng đi săn bắn.
  3. Tiểu nhung: chinh phụ khen nhớ chồng.
  4. Kiêm gia: đi tìm người hiền.
  5. Chung Nam: lời dân khen tặng vua mình.
  6. Hoàng điểu: dân thương tiếc người có tài mà bị chôn sống theo vua.
  7. Thần phong: vợ nhớ chồng vắng nhà.
  8. Vô y: binh sĩ thương nhau lo việc chiến đấu.
  9. Vị dương: tiễn người cậu ra đi.
  10. Quyền dư: lời than của người hiền lần lần bị bạc đãi.

[sửa] Trần phong

Gồm 10 thiên:

  1. Uyển khâu: người hoang đãng múa hát vui chơi.
  2. Đông môn chi phần: trai gái tụ hợp múa hát trao ân tình.
  3. Hoàng môn: người ở ẩn dễ tính sống thế nào cũng được.
  4. Đông môn chi trì: trai gái nói chuyện mà hiểu lòng nhau.
  5. Đông môn chi dương: trai gái hẹn mà không gặp.
  6. Mộ môn: kẻ ác được cảnh cáo mà không biết hối cãi.
  7. Phong hữu thước sào: lo buồn vì người yêu bị kẻ khác lừa bịp.
  8. Nguyệt xuất: nhớ người đẹp mà lòng ưu sầu.
  9. Tru Lâm: châm biếm vua thông dâm với vợ quan.
  10. Trạch bì: đau đớn nhớ thương mà không được gặp người yêu.

[sửa] Cối phong

Gồm 4 thiên:

  1. Cao cầu: thương vua không lo chính trị chỉ lo đẹp đẽ quần áo.
  2. Tố quan: mong mỏi thấy lại tang phục đời xưa.
  3. Thấp hữu trường sở: dân chúng quá thống khổ than thở không bằng loại cỏ cây.
  4. Phỉ phong: lòng bi thương nhớ đến nhà Chu tàn hạ.

[sửa] Tào phong

Gồm 4 thiên:

  1. Phù du: ngao ngán người đời ham mê vật chất mà muốn trở về ở yên.
  2. Hậu nhân: lời châm biếm đứa tiểu nhân được làm quan to.
  3. Thi cưu: khen tặng người quân tử chuyên nhất công bình đủ tài đức trị yên thiên hạ.
  4. Hạ tuyền: thương tiếc nhà Chu không còn cường thịnh như xưa.

[sửa] Bân phong

Gồm 7 thiên:

  1. Thất nguyệt: những công việc phải làm quanh năm của nhân dân.
  2. Xi hiêu: chim tận tụy bảo vệ ổ qua cơn giông bão.
  3. Đông Sơn: tình cảnh khi chinh chiến trở về.
  4. Phá phủ: quân sĩ khổ nhọc nhưng vẫn kính mến chủ tướng.
  5. Phạt kha: việc gì cũng có đường lối noi theo.
  6. Cửu vực: dân mến tiếc Chu công.
  7. Lang bạt: thái độ ung dung của Chu công.

[sửa] Nhã

[sửa] Tiểu Nhã

  1. Lộc minh: Đãi đằng tân khách để vua tôi quyến luyến nhau.
  2. Tứ mẫu: Nỗi lòng của bề tôi vì việc vua sai mà không phụng dưỡng được cha mẹ.
  3. Hoàng hoàng giả hoa: Bề tôi lo công việc của vua sai.
  4. Thường đệ: Anh em vợ con thì bao giờ cũng quý hơn bạn hữu.
  5. Phạt mộc: Tìm bạn bè hậu đãi bạn bè.
  6. Thiên bảo: Lời của bề tôi cúc tụng vua.
  7. Thái vi: Nỗi lòng người chiến sĩ lúc ra đồn thú và lúc trở về.
  8. Xuất xa: Quân đội đi và trở về sau khi thắng trận.
  9. Đệ đồ: Vợ mong chồng đi quân dịch mau trở về.
  10. Nam cai: (không có lời thơ).
  11. Bạch hoa: (không có lời thơ).
  12. Hoa thử: (không có lời thơ).
  13. Ngư ly: Các món để ăn uống đãi khách rất nhiều và ngon.
  14. Do canh: (không có lời thơ).
  15. Nam hữu gia ngư: Món ăn vật uống ngon lành đem ra đãi khách.
  16. Sùng khâu: (không có lời thơ).
  17. Nam sơn hữu đài: Lời chủ nhân chúc tụng tân khách.
  18. More...

Tản văn: KHI TÔI 20 (Phan Thị Hoài Thu - TH Văn B K32).

By

 

Khi tôi 20

Ngày còn bé tôi chưa nghĩ được rằng lớn lên mình sẽ như thế nào vì vốn dĩ tôi đã sống một tuổi thơ quá bình lặng yên ả nếu không muốn nói rằng nó thiếu đi những nét tinh nghịch hiếu động của tuổi thơ. Ngày ấy đã đến cái tuổi mà người ta gọi là tuổi teen tôi vẫn ngây thơ mơ mộng suy nghĩ vẩn vơ đến... khi tôi 20. Giờ đây thì tôi đã có thể trả lời được những câu hỏi của chính mình ngày xưa.
Khi tôi 20 là khi tôi bước qua những cái âu lo thấp thỏm của thời sắp trở thành thiếu nữ. Tôi mạnh dạn hơn khi tìm hiểu những điều cần biết của tuổi mới lớn và tự tin đón nhận những thay đổi của bản thân về mọi mặt.
Khi tôi 20 là khi tôi không còn lo sợ không còn rụt rè nhút nhát như khi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa Đại Học vào cái tuổi 18. Hòa vào cuộc sống nhịp nhàng ngưng đôi khi đột ngột tăng nhịp điệu của đời sống sinh viên tôi đã quen dần với những kỳ thi học kỳ những hồi hộp khi chờ báo kết quả và những hy vọng một suất học bổng cũng không ngoại lệ. Cuộc sống sinh viên đã tạo cho tôi những kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như cách thức sống một cuộc sống tự lập mà trước đây khi bắt đầu rời xa vòng tay của cha mẹ tôi chưa hề biết.
Khi tôi 20 lần đầu tiên tôi viết được hoàn chỉnh một bài thơ mặc dù nó "được" mọi người nhận xét là quá bình thường và hơi nhàm vì họ không dám nói là quá tệ. Chắc họ sợ tôi tủi thân . Nhưng cũng từ đó tôi hiểu ra rằng là một sinh viên văn khoa dù cho ngững tác phẩm đầu tay có dở tệ đến mức nào thì cũng phải cố gắng tập viết học hỏi kinh nghiệm của mọi người để viết tốt hơn.
Và khi tôi 20 cũng là lúc trái tim tôi cứ ngỡ như đã mãi "Trơ cảm xúc" biết rung đọng trước trái tim một người khác giới. Tôi không say đắm trong tình yêu một cách quá mạnh mẽ như mọi chuyện tình tôi đã được biết hay đã đọc trong văn chương nhưng tôi vẫn không thờ ơ với nó. Đón nhận một tình yêu không phải là dễ và để giữ được tình yêu đó ngày càng tươi đẹp lại càng khó hơn. Tôi và anh cách xa nhau hàng trăm cây số nhưng tôi hiểu rằng chúng tôi luôn nghĩ về nhau. Vậy là quá đủ đối với tôi hy vọng là anh cũng thế vì tôi tin anh.
Để giờ đây khi tôi 20 nhìn lại khoảng thời gian từ bé cho đến bây giờ tôi vẫn ngỡ đó là một giấc mơ một giấc mơ mà tôi nghĩ nó sẽ là một bộ phim cuộc đời thật dài chưa đến hồi kết mà tôi là nhân vật chinh trong bộ phim ấy

 

                                                Phan Thị Hoài Thu

 

 

More...

Thơ: HAI NĂM GẶP LẠI NGƯỜI XƯA (Vi Ánh Ngọc - SP Văn K32).

By

 

HAI NĂM GẶP LẠI NGƯỜI XƯA
 
Hai năm dài xa cách

Nay bỗng nhiên chạm mặt

Có phải vô tình không

Hay bởi gió mùa đông

Con đường giờ xa lạ

Em giật mình vấp ngã

Theo cơn gió heo may

Đến tận khoảng trời này

Hai năm rồi em đi

Đoạn đường đành chia li

Em về bên người ấy

Có còn nhớ gì không

Bao kỉ niệm tan dần

Đếm từng thời gian trôi

Và nay đã xa rồi

Hai năm dài xa cách

Nay bỗng nhiên chạm mặt.

                                Vi Ánh Ngọc

 

More...

Tản văn: MỘT THOÁNG QUÊ HƯƠNG (Đỗ Thị Minh Trang - TH Văn B K32).

By

 

            MỘT THOÁNG QUÊ HƯƠNG

Phương xa một chiều chợt buồn da diết tôi thấy lòng vơi đầy bao kỉ niệm.Tôi chợt bồi hồi nhớ về phố trẻ Tuy Hoà đất Phú.Cũng nơi xa xôi ấy vào những ngày tháng năm bất chợt xuất hiện những cơn mưa trái mùa nhìn mưa trắng trời phố thị nỗi nhớ cồn cào về cùng những giọt mưa lạnh buốt.Những buổi chiều khi tôi còn nhỏ nắng mơ màng rơi trên những mái rừng nắng trãi vàng lấp lánh xuống sông Đà Rằng trên những bãi cỏ non ven sông.Hai cha con tôi đang giăng lưới đánh cá trên con xuồng nhỏ giữa sông Đà Rằng.

Bạn biết không đặc sản của sông Đà Rằng là cá bống đó.Cá bống là đặc sản đậm đà chất quê của vùng sông nước Đà Rằng Phú Yên.Thịt cá bống thơm ngon trắng và quý đối với người dân địa phương nơi đây.Sông Đà Rằng có nhiều loại cá bống như bống trắng bống dồ.Không những thế nơi đây có những bãi nước rất cạn ốc rất nhiều những buổi trưa hè  chị hai và mấy chị trong xóm rủ tôi đi đãi ốc. Ốc lớn có ốc nhỏ có. Ôc lớn thì to khoảng bằng ngón tay trỏ vỏ của nó có  màu đen thẩm rất dày và cứng nên người ta gọi là ốc đá con ốc bé xíu màu vàng nhạt gọi là ốc gạo.Mấy thú ốc này mà đem luộc với nước dừa và xả là ngon tuyệt.Mùi ốc thơm ngào ngạt đặc trưng của mùi xả thịt ốc béo ngậy vì thế mà có lúc cả nhà hoảng hồn vì cu tý ăn quá nhiều ốc đến nỗi đau bụng la cả đêm.

  Những người sinh ra và lớn lên ở nơi này nếu phải sống xa nhà  chắc chắn rằng  sẽ không tránh khỏi bồi hồi và không thể quên được những món ăn giản dị nhưng rất đậm chất quê.

   Tôi nhớ mãi năm mười tuổi tôi vẫn chưa biết bơi nhưng vẫn thích tắm sông cùng nhóm bạn cùng xóm.Chiều chiều tôi theo lũ bạn nhỏ cùng xóm đem diều ra thả bên bờ sông chơi chán rồi nhảy tỏm xuống sông tắm.Có lần  tôi bị hụp nước  không nhờ thằng Tèo thì tôi đã “ngủm củ tỏi” rồi.Từ đó bọn nó bắt đầu tập bơi cho tôi.       

            Con sông quê tôi tên Đà Rằng theo tiếng chăm cổ có nghĩa là “Con sông lau sậy”.Sông Đà Rằng là đoạn cuối của sông Ba giữa Tây Hoà và Tuy Hoà  rồi đổ ra biển đông ở cửa biển Đà Diễn phía nam thành phố Tuy Hoà tỉnh Phú Yên .Con sông quê tôi rất kỳ lạ.Có đoạn sâu thẳm có đoạn lại nông choèn thuyền đi đuợc ở khúc dưới dìa khoảng 10km còn trở lên bị đá ngăn trở lại.Có một khúc cua đột ngột vào chỏm cỏ nhô ra mặt sông đến 20m nước sông lắng đọng thành hồ nước con con. Ở đó có  nhiều cá và hền lắm.Chính chỗ này tôi và chị hai thường đi đãi.Những người dân nơi đây họ sống nhờ vào sông Đà Rằng rất nhiều :người thì giăng cá đãi ốc rất nhiều xe và cộ đến xúc cát và đãi sạn .Nhiều người dân ở xã Bình Ngọc nằm ở tả ngạn sông Đà Rằng làm vườn đều nhờ vào nước sông này .Mùa nắng nước sông cũng vơi đi phần nhiều có đôi chỗ còn trơ một bãi cát có thể làm được cả sân bóng nhưng đến mùa nước lớn thì nước sông tràn vào .Cả vườn nhà tôi sau khi nước rút để lại những vùng này lớp phù sa màu mỡ hứa hẹn cho những mùa bội thu.Và đây vẫn là con sông êm trôi con sông thân yêu  đã sống mãi trong tôi  từng ngày và “sông Ba ơi ai xa mà không thấy nhớ”*.Với cư dân trong vùng dòng sông kì vĩ này không chỉ gắn với bao kĩ niệm ấu thơ  mà còn chứng nhân một thời của bao nhiêu sự kiện lịch sử huyền thoại.Sông Đà Rằng nằm gắn liền với con đường số năm lịch sử chính con đường này quân và dân Phú Yên đã chặn đứng và làm tan tác bao sư đoàn nguỵ quyền để giải phóng tỉnh luỵ Phú Yên và góp phần giải phóng hoàn toàn miền nam đất nước.

   Thật là một con sông vừa “kiên trung” ”hiên ngang” ”anh dũng kiên cường”.Hầu  như toàn bộ những người con đất Phú sinh ra lớn lên  và trưởng thành  cũng nhờ chính con sông này . Đây còn là nơi mưu sinh trong suốt cả cuộc đời ….với những cánh đồng xanh non rộng đến ngút tầm mắt .Sông Ba cung cấp nước quanh năm cho đồng bằng Tuy Hoà với diện thích  hơn 20.000ha là vựa lúa lớn nhất miền trung Viẹt Nam. Đồng bằng này  cho ra cả những “hạt mến hạt thương”** để có thể vừa “chăm quê hương”** và “mang tới chiến trường”**.

     Dọc sông Đà Rằng có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử ví như ngọn tháp chăm cổ kính  tên Tháp Nhạn nằm bên bờ biển phía đông dòng sông Đà Rằng với bốn cây cầu đường bộ và đường sắt chạy song song qua sông. Đứng ở độ cao 64m của đỉnh nuí Nhạn chúng ta mới thực sự thấy hết vẻ đẹp kì vĩ của dòng sông khi chảy qua giữa lòng thành phố  và những đêm trăng sáng cùng với độ cao này nhìn xuống dòng  sông ta mới thấy được vẻ đẹp huyền diệu của dòng sông trãi dài ánh bạc.Hằng năm vào dịp lễ tết trên núi Nhạn tổ chức nhiều hoạt động văn nghê vui chơi giải trí . Đặc biệt là rằm tháng giêng âm lịch nơi đây diễn ra hội thơ nguyên tiêu làm cả tháp Nhạn bừng sáng đã thu hút đông đảo văn nghệ sĩ và du khách gần xa.Và có ai đã từng ngắm  hoàng hôn trên cầu Đà Rằng hay những chuyến đò Ngọc Lãng trong buổi bình minh trên Sông Đà Rằng tôi chắn rằng sẽ rất khó phai bởi những khoảnh khắc tuyệt diệu đó.Ngày nay Núi Nhạn và Sông Đà Rằng được xem là biểu tượng của Phú Yên  và nhân dịp kỷ niệm 400 năm ngày thành lập tỉnh Phú Yên  tôi chắc rằng sẽ có nhiều hoạt đọng và lễ hội  diễn ra và sẽ thu hút du khách trong và ngoài  nước đến thăm.

               “Có khoảng trời nào xanh hơn đồng lúa có quê hương nào đẹp tựa Phú Yên.Hỡi ai ra Bắc vào Nam dừng chân ghé lại mà thăm quê mình”.***

Phú Yên quê tôi đó phong cảnh hữu tình hoà quyện với bao tấm lòng mến khách của người dân nơi đây.Hãy đến với quê hương chúng tôi ngoài những vẻ đẹp vốn có của thiên nhiên ban tặng các bạn sẽ được nhận những tình cảm chất phác nồng nàn chân quê đậm đà đất Phú.Vậy bạn đã từng ghé thăm đất Phú quê tôi bạn sẽ có dịp ngắm nhìn hoàng hôn trên cầu Đà Rằng sự yên ả của chuyến đò Ngọc Lãng trong buổi bình minh Sông Ba ngắm nhìn  ngọn tháp Chăm cổ kính giữa thành phố hay sự náo nhiệt  của ngày xuân vui hội sông nước với xuân yên bình trong đêm hội hoa đăng.Hãy đến với những người dân đất Phú.Người con quê hương luôn luôn hướng về đất mẹ.

                                                                Đ.T.M.T

Chú thích:* bài hát “sông ba yêu thương”

  • *bài hát “hạt gạo Tuy Hoà”
  • Bài hát “Yêu lắm quê mình”

 

More...

Thơ: LỜI CỦA GIÓ (Trần Thị Minh Thư - TH Văn B K32).

By

 

 LỜI CỦA GIÓ

 

"Anh có nghe thấy gió nói gì không?

Bao yêu thương em gửi vào trong gió"

Khúc dương cầm ướt mềm như cỏ

Lăn giữa dòng đời nốt nhớ mêng mông.

"Anh có nghe thấy gió nói gì không"

Nhịp đời cuộn trôi cây hồn nhiên xanh lá

Anh thật gần mà anh xa em quá

Nốt rê trầm chưa kịp đánh dấu thăng

Em giấu mình sau sắc tím bằng lăng

Để u uẩn lời tự tình của gió

Câu thơ viết cho ai còn bỏ ngỏ

Biết trao ai lời của gió bây giờ?

                                            M.T

 

More...

Thơ: THẦM LẶNG...(V.M.H).

By

 

Thầm lặng...

                            Tặng K

Trái tim có điều không nói

Yêu thương ấp ủ trong lòng

Trái tim có điều không nói

Để rồi người ấy ra đi.

 

Biệt ly chỉ là chuyện cũ

Niềm đau vẫn mới không ngờ

Một tôi của ngày tình lỡ

Một em giờ đã ngày xưa.

 

Tàn đông gỡ tờ lịch mỏng

Tôi đem gió thả lên trời

Tôi đi trên đường phố rộng

Nghe mình có một ngày mai...

 

                 Quy Thành 24/3/2011

                           V.M.H

 

More...

Thơ: NGƯỜI VỀ (Vi Ánh Ngọc - SP Văn K32).

By

alt

 

 

NGƯỜI VỀ

 

                           Tặng B.Th

 

Người  về còn lại mình ta

Hai ngày không gặp như là trăm năm

Bởi mang nặng mối tình câm

Khoảng trời mây bạc đêm nằm nhớ nhung.

 

Người về bên ấy tương phùng

Ta ôm cay đắng rưng rưng lệ tình

Ngậm ngùi đau xót lặng thinh

Dõi theo từng bước bóng hình xa xăm.

 

Người về ta bước âm thầm

Dài theo dòng lệ thanh âm vỡ lòng

Từng giây từng phút ngóng trông

Thời gian che giấu cõi lòng xót xa.

 

Người về giết chết hồn ta

Đêm thâu ngậm đắng la đà tỉnh say

Mảnh tình thầm kín đong đầy

Siết vào nơi ấy cuồng quay tháng ngày.

 

                                  Vạn Long 11/3/2011

                                         Vi Ánh Ngọc

 

 

More...