NHÀ VĂN TÀI NĂNG VÀ SỰ SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT (Th.S Võ Minh Hải).

By

Nhà văn tài năng và sự sáng tạo nghệ thuật

                                                  Võ Minh Hải

                              (Khoa Ngữ văn Đại học Quy Nhơn)

        Sáng tạo là quá trình tìm hiểu về chân lý nghệ thuật với tư cách là một đối tượng chiếm lĩnh đặc thù. Nó thoát thai từ cuộc sống mang lại những hương vị thơm ngát dung dưỡng tâm hồn con người. Trong hoạt động ấy tài năng của người nghệ sỹ dường như là yếu tố quan trọng nhất đó cũng là cái mà nhà văn Nga Tuốc – Ghê – Nhép muốn đề cập đến trong quan điiểm của mình:“ Cái quan trọng trong tài năng văn học là cái mà tôi muốn gọi là tiếng nói của mình..”.

      Tài năng của người nghệ sỹ là vấn đề luôn gây tranh cãi. Một tác phẩm thật sự mang lại cảm xúc cho người đọc không chỉ ẩn chứa trong nó nội dung sâu sắc mới lạ mà còn phản ảnh được cái chân tài của nhà nghệ sỹ. Đó là yếu tố uyển chuyển ẩn chứa trong tác phẩm và thể hiện thông qua nhiều khía cạnh khác nhau từ quan điểm góc nhìn chi tiết hình tượng khả năng thâm nhập cuộc sống vốn văn hoá…Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là như thế nào là nhà văn tài năng và giàu cá tính sáng tạo? Vì sao nó lại là yếu tố quan trọng nhất?

      Theo truyền thống của Phương Đông người ta luôn coi cái tài là do trời ban cho. Quan niệm này giúp cho người nghệ sỹ tránh được thói tự mãn kiêu căng vô lối. Còn những người theo quan điểm thực tế thì luôn cho rằng tài năng chính là do công phu rèn luyện mà thành. Quan niệm này giúp cho nhà nghệ sỹ vững chí rèn tài. Song cái khả năng ấy suy cho cùng là vậy nó vừa là những khả năng thiên phú nhưng đồng thời nó cũng vừa là nhờ công phu rèn luyện của họ. Cái cá tính của nhà văn là sự thể hiện những tư chất những khả năng đặc biệt của họ trong sáng tạo nghệ thuật đặc biệt là văn chương. Đó là sự tổng hợp sức mạnh năng động giàu có sâu sắc của thế giới nội tâm trong mối quan hệ với ngoại giới. Nó là kết tinh không chỉ bởi sự khổ luyện một đời của nhà văn nhà thơ mà có khi là thông qua một mã di truyền của cả một dòng họ qua bao đời đúc kết mà thành. Không ai phủ nhận tài năng của Nguyễn Du khi sáng tác Kim Vân Kiều ( Đoạn Trường tân thanh) mà không có sự ảnh hưởng của truyền thống sáng tác của họ Nguyễn ở Tiên Điền. Cái tài của người sáng tác văn chương còn là sự cô đọng của cả một nền văn hoá mà bản thân họ được tắm trong đó nó như bầu không khí vô trùng và ngẫu nhiên mang lại cho họ những suy tư trong tâm hồn những sầu muộn rất người những lý giải phân tích hợp lý về cuộc đời về lẽ sống niềm tin…Bởi thế giây phút sáng tác là những giây phút thăng hoa cùng với những cảm hứng tuyệt vời. Tạo hoá đã trao cho họ sứ mệnh chăn sóc tâm hồn con người nhưng đồng thời cũng ban cho họ một trí tưởng tượng siêu việt vượt lên trên mọi biên độ để tạo ra những chân trời nghệ thuật. Con tạo đã ký thác chân lý của hoàn vũ nhân sinh thế sự vào trong họ và với những chất liệu tươi rói của cuộc sống họ đã xây dựng nên biết bao hình tượng sâu sắc. Sự mòn mỏi của người chinh phụ sự tự ý thức của người cung nữ đã được tác giả các khúc ngâm mô tả chân thực tỉ mỉ đã tạo nên khả năng hiện thực hoá tâm hồn phản ánh những trăn trở băn khoăn trong tâm lý người phụ nữ đời loạn người cung nữ nơi cung cấm những thành công ấy nếu không có cái tài khả năng lắng nghe của của nhà thơ thì có lẽ nó chỉ là một kiểu tự sự như các kiểu thuật sự trong Tình sử Trung Hoa (tên tác phẩm gồm hai tập do NXB Văn nghệ TP HCM XB Phùng Mộng Long biên trứ) .

      Tài năng và cá tính sáng tạo của nhà văn giống như tảng băng trôi nó có phần nổi có phần chìm và cũng như vậy tài năng và cá tính của người nghệ sỹ có phần thực có phần ảo. Khả năng giao thoa giữa hai phần này sẽ mang lại cho tác phẩm sức hấp dẫn và khả năng tái tạo mới trong vấn đề thanh lọc tâm hồn người đọc. Bản thân nhà văn còn là một cá thể xã hội một thực thể mang đầy cá tính điều đó góp phần trong việc tạo nên giá trị độc đáo riêng biệt của từng ngòi bút trong sáng tác. Trên cơ sở này mỗi người sẽ phát huy được khả năng tiềm  ẩn vốn có của mình. Những nhà thơ là những nhà ngoại cảm vĩ đại cảm xúc trong họ dâng coa nhưng ngọn triều và tuôn ra những dòng thơ mang nhiều sắc thái. Ta bắt  gặp xúc cảm mạnh mẽ trong thơ Vũ Hoàng Chương tinh tế trong thơ Nguyễn Bính cuồng nhiệt khao khát trong thơ Xuân Diệu ngỗ nghịch trong thơ Hồ Xuân Hương đoan trang cổ kính trong thơ Bà Huyện Thanh Quan… lại có những nhà thơ thích suy lý như Chế Lan Viên có người lại mang vẻ thâm thuý sâu sắc của sỹ phu Bắc Hà như Nguyễn Khuyễn có người lại mang dáng vẻ khá Tây trong bộ áo the của nhà nho đương buổi giao thời như Tản Đà… và tất cả đọng lại trong dòng chảy văn học như những chứng nhân của một thời quá khứ xa xôi nhưng còn vọng lại đến hôm nay và nó còn thể hiện ở khả năng sử dụng ngôn từ nghệ thuật đúng hơn đó là giọng văn của họ.Điều này ta thấy rõ qua giọng văn duy mỹ cầu kỳ khinh bạc nhưng lại trong sáng hồn nhiên của Nguyễn Tuân giọng văn có sức ám ảnh đến ma thuật vừa sắc sảo lạ lùng đến tàn nhẫn của Nguyễn Huy Thiệp hay giọng văn dí dỏm vui tươi bợt cợt nhưng sâu sắc có giá trị răn đời cảnh thế của Vũ Trọng Phụng.  Vậy tài năng và cá tính là yếu tố bên trong của khí chất là cái giúp người ta phân biệt giữa phong cách này với phong cách khác. Tất cả đã hoà vào trong một vẻ đẹp duyên dáng quyến rũ – Duyên thầm.

      Đến đây chúng ta có thể khẳng định rằng tài năng của nhà văn chính là cá tính sáng tạo nghệ thuật. Đó là cái thật sự độc đáo đó là cái tài nói lên đựoc nhiều điều mà không phải ai cũng nói đựơc đúng hơn đó là cái tài thổi hồn vào những xác chữ mang lại vẻ đẹp tự nhiên tươi rói như hoa đồng nội nhưng tiếng chim giữa rừng hoang núi thẳm và người nghệ sỹ nói chung và văn sỹ nói riêng mất đi chính họ thì xã hội cũng sẽ mất đi những tác phẩm kiệt xuất độc đáo. 

          Quy Nhơn tháng 10 năm 2006 

More...

Tản văn: ĐÁM MA TO (Trần Thị Thùy Minh - SP Văn K33).

By

alt src=data:image/jpg;base64 /9j/4AAQSkZJRgABAQAAAQABAAD/2wCEAAkGBhQSERUUExQWFRQVGBwYGRgYGRwXHBoaGx4ZFxcaGBgXHCYfFxojGhgXHy8gIycpLCwsGB4xNTAqNSYrLCkBCQoKDgwOGg8PFCkcFBwpKSkpKSkpKSkpKSkpKSkpKSkpKSksLCkpKSkpLCkpKSkpLCksLCksKSkpKSwpKSkpKf/AABEIAL8BBwMBIgACEQEDEQH/xAAcAAACAgMBAQAAAAAAAAAAAAAEBQMGAAECBwj/xAA+EAACAQIEAwYEBQMDAwQDAAABAhEAAwQSITEFQVEGEyJhcYEykaGxFCNCwfAHctFSYoKS4fEkM6KyFXOD/8QAGQEAAwEBAQAAAAAAAAAAAAAAAAECAwQF/8QAIxEBAQACAQQCAwEBAAAAAAAAAAECESEDEjFBIlETMmEzBP/aAAwDAQACEQMRAD8Ao62dazufCfQ0d3OvuKl/DaH0rdCC5Z+H0Fd3LPhPk37UacP8Nbazo391SANi1v8A8v2rsW5dfRj9KMs2vB/1V1bw/j9FNFBe1nwHzrtbEuf5you7h/B7ipVseNv5yFTQDSzqPOT9q0trf+/9qYfh9R5CstYf/wC/7U9AC9mCPRvtWza8H8/m9MrmF1Hoa3+G8FGgAXD6tptU9jDSs/zYUfbw2rfzlU+Ew3hPlH2o0DHsL2ct4i6Rcz/lKjrlMa551/6RV97V8BGJszJD2wzL0OmoYcwRST+nCBXvD9RS2faWH3q8lJEHnpUb5VHiF/DAe4n5xQz4fWnuPw0adNPkY+1A3LG/vWqaUthttK4u4Xf1NNGw+oqM2JB9T96AU3cJv/b+5qBsHt6n7U5ezqf7ajex8Pr+1GgR3MN4TpUdzDfYn7U8fCeEz/Nv8iormEzMwH+k0cAkGG12rS4XUU3GG1b0P2rlcJr7D7CnoFRw+p9a33Go9KZW8NofU1y+G8XtQRf3P2P7VsYfb1H70f8Ahvt+4rfcbeop6AG3h9ajSxoPQU1TDa1EmH8Io0YE2dW/u/xW6YDDfF6/4rKWg4RPuKlZdDWKunuPvU9waUVKZbeq1yF8L+tTINV9K5y+F/X/ADSU5tW/yx/yrMKjEkxrlj+feiLS+Ae9GcMwujsHEj9OsjbXz9KnLgFt20QAD1ipEw7FnIUmF5Db1psMMtzM4y6s+UGddM8jzg86mwFsqlxlBVpCMf8AUpO4nSRJqN8ETsmojpH7/asS1p/zppi8CQ7MNAgytA/4pr/qOWT0FBoN/JpP89aqXfJtXLPi9jWBPBRNxfF7VoL4asObNrVv5yqfBJo3t+9d4can2rrBLq/oPuaKFk7CL+fc/wD1L/8AarwdqpPYyRefTQooJ5DU/OrlceBoJ8v/ADWN8qjzDGr9p+Zmgr1vQ00xC/YD5aH7ULeTwn0rZOwT29ahCaH1NHMmtQhNPc0wEe3qf7f3rjuJj1/Y0Zl8W0+Gphwt+7F0AMgIJIMkSSCCNwQKjK6BdllBJ1iB56AwflQuSHY9Av3p9hcIRcUFQ+aFE7ZmAP0BE1viGAK3wqAZsqRGzMJkmeprOX0RZxPhgQZl+F0B13zEHNpyEigBZ19hVmxthXdUGaUUoeo+JtOviJpdgsCWuBY2+KdhHU9AauZcCk1myQNuc1w1vxUatvTqZqNk1Nawg5tb+n71j2tvWijb39BXLpoPWmSJbetRC14Pc0cBrUIXwn1NM3At6H1/xW6IK6e/+K3VAsUfcfep3taVpU096muiBUU4ktLt6VGw8D+tTWz9ood7vhI6moEFJpbXpBqfAYnIGjNPMgcgdjSTit8i0Cqk5IJ12E8xz5Vu3xjOqsjbmWWYII1g1OXg/KypiStp1GsuWQgaCVAIPuPrSzC9pXN0YcwEYEgsJhtJXTcfat2cfb7wgg53UtvpqpgfQVDh1dQ76BcxKk6TKgtl84rHwVWm0IsspdQb0sVJ1DTlEz1AB96CxR/KRWTJdViG81BOUn1/aujZtXLJZ08JXQzqehJ60PiFIEElsuxJkkHUSavA/TCPtWZfCakC6mmHD8BK5mUnmFHTqTyWtiQ4DBO5JA001Og2POmXDuAglvzFnLqBrGumtT3sOzIyMYEfp2BBLKQOh2NV3s8Daxly2cQ2QKWyhdWzeGCeg3ms8s/o1rur3Fh7ay3ezDBihBgAAMuo2OtZwb8UqW+8xBKj41ZQ7gEGPzNNBoRp70Baut+YSrsgBVJGg/VmJ57RUF3j4sZGylrjeEIozZv2JC6n0rO01iOFtsM2hzST58p+hNJ79mznKlgseHkfGBt1867xAKlCuYue88BgAyrSs7DQ0v4LwuzZuFipd7tyczkNkIOZY6MCTrR30aGYjs+w+Ehp89ddvelNzCMo8QI16VYrLgoUmWBOh0nzDVPffMo2y5TKNqTvAH1rTHOXijSnPb19qa8MhrDp4lCN3jMp1bko6+ddYjhKsQ1vQGJVt1nr5UHxFzhsuUs5JaQo0kaieoo6hRDgcS2njZDLBjI3YmWH/AKD0Iou8LN0SrsUtNDaEGYBBB9yfekPD8f+JaLK5mAZmbZZ1gHpqPrUj37lv8u5cUZhA8pPNucLAnyrltspQdfx5vucrIgyn1kkkeL+3L86kwIu2bZYFWBOVgDJB11n3OlVrhmNTvGV2gqxmB4SFiCD01p5iOLkErAgMp3A18ZM9dMtaSq1KCyaef8AN6GK6mjWu5vEeYk9ZOtDZa7IhwV0PqPtWOu1dxo393+KxxtTJsLrUAXRvWiBULfqp6CS8IU/zpWV1eMr8v2rKqQwI2H91S3qED6D+4fepcXcisyTK2lBuQoMv8Ww/wAVu7d8P1qFnUr8IYdDU8GKw/DYUEsYIn5zMzypTawyrcYWmtlZB1eDJ1jXzorGYy73eXKDmHhjXzAFV3FYhgH7y0viAgkbacjWWX8OLPg7gvX5NlgEUSSdm03jcR0pjxq4oVk0ZMyxEr3axBIj4h/mkfYrGG1mYHMGQACZ6/IipuMcGvnxCe6y5mEyZJzQI3AH1rPXA1ta+H8HslbYV2KsdAWmVEkADmCTPXSj+IYJFszAzRG8GAcu3tVe4D3i4a1ltm4gOfXwQSOp10M/Sm1vElwWK5nVSD+4DddRSl0fpJg0VnE7b684G1O8JYuORcVoUiIGoifhI6Aa0j4daOdJIkkiOY0J1qyYcOMMsMFPQcwDt8ta3yvx4EJsRxHJffUw2kbyQNoFH2UKsGVYuFefIayp6zSFsI+BW5fYm4CTmDHWDzB2Gse1JexnHMQ2LAcl7QzFpjwqZCAN5EisBVzHGWTC3HvLlNvNms7kgagqRuCDvQHC7+HxGW9L22slkyGRo6/DB1BEnxCq/wAR7c5bzW71hx3eYTIltNFI6HQz60kbt402gtjwIwLgtLEcwrEaaTvRqnHo3FONd1irVkozW7y6OonKxBEk8gPtNQteP4tMtv8AJM+JTOUwSsz56Ug4b/UezcvObv5KAjKCC0ropOmzamguKdvUUsMMpBzad4soApMEA/zWp1VaXXD4xTcNsmIMhTqSu+b0k/Spr+MBOY5sh0BG4gxseVU7BdtkNrDtdy989wJeZRlhFbwk+UEbU47ZcYDXUwquFzkZblshiJPhnlrtT0RzjT3dxbnUaj11A9oNVfthxO6tw5NmygTOxAIA+dWi/gywUuTCorNbaJMADcfWkXaMC3cGe2bipl23Ug6AdTI+tbW8bEhVw3jYsK9sKqXIhw0qQdwoHM8z61xjLH4y6Sl1bbDwkMZA0AaP5vUeOwLYt2fuRbYmQzH4xyJ55opFd4Die8YWRnWTqDA6jU/qrn9p0f4G4qW+7vW1BBNsn9TTDD2mkhxJS4Eg6Ekz5k7+woaMRYdBctFdcwDnMGkHmd9KsnA0tXz4hDquZyDuAYUCdgBv5g1eN5PXsfY4pbyqjQPDLHy1ihbVwHXrXXEezLC4rqzOIzCNdOQIHqPlUBVlYAiDXTjdRNTyMv8AyNcvyqE3DHvWXH2rVFEVC36vStG7UF28ZPpTODrnwj0FZUZbwL/aKyqngbKnfb1FSYh6hI8S+v8Amu7wY6KJrKhLbWRpr5UNfREiAcxmRB1PKKbcGORmMSQohgInrvzFTcQXvCWOUAICHnKS3QnY+21YZZHAn4Y+GRCofi3HrWWuG2r+dGCEECGnUAHUAc5FBYHj91rRQL4S5XNyExvOw/zTLC4hAlwKR3inXX4QQBMDlM1B7Sf/AIi0i3EKLafw6gRpJC//ABGvrUr4w2QucTmEqJ0CCdI85qgcSx7FyA7ttrrMgzt+1WftPirMBEW5ooILNJRiAY/ePOp2cp5bz96LYJy3NMin4W1IHpFEcd4uMOFQ28vgEQZmNJ+n0quYbs1iFKXrN3NeXKSpldwZ9YBFWy7wnDXbZuYnUpbyly0AQZ8K8iSd/KigLgcX+daHxMRJI/07a+xphwvFAYhlcZgAcuvwnaB7VR+zz/8ArLTBmIN0hQSZykGJ9AKv3BbZN254QQSNea77dDoPnW+P6Uex2JwoClWIh5dp1jYKsHymvL8fcy3rndFkBJWB4dNyIO3i1q98Sxt22957iK1keK3cElgQNVZBuCQdeU1ReIYw3rhuMAC0GBsNAAKnpY72WVBXLZbxNLRpJMny1qGBRd1jlUctT9qfcE4MpgsJnka1uoeONpNwnF5WMojeFjBA3ANcXsKL6m5bSCNXXoeo6g1a8XwO1lOVYMHX10pLgcccGzD4g2jA/Qg1M005Vd7fkPQ8/IxXpXZpsPiLa3EwoVSStwTqjCIKGPFqBsaq/aWyhUXLagBjuD9xTv8Apvx0sxw7XAbKqWUZdcxaYPXrWfURZqrnxAFgWK6osKwPiM7iPIClGNxFzvAwHgKAt1kSdusR8qd3/DcgmRqD/tnVTPvBqv8AG+G3e9Tury2/CVJKh5EzpOmx5074E3EfEMaoYBlzW8quSPi0+LUbbTS1u1dtXdQpCNlZDzIgyTHLl1qt8YFywbltb+ZbajeJ8XxDToeVDYLgjXMObr3CAPgCiSw0zMTy1IEVhZ6G10N04hwAO8tosgHkwkaxrGg260PheHWiW7zKhnMRb2GjeFecAPrPSqzwzte9l4AQKJBImd953qxcI4nnuBrHdBmBVyw31mR6zHtTlG3WPxTW8O4ViPEuswxEmMo6a0rs4xGYGddZmSQddKjwQu99edVW6qEkoTCg+KRrz0MR0o7hHZkXVN+5bKO6n8v4VEkQ1vzyjnV714KuO8ED1rp6Z3OzahB3ZJYGDmO/OT0pUZmurC7m0Vjb1DiDoakflUV7Y+lUQ9fgX0rK5snwJ6VurngEjXiCkAnU7b86LwmI8Dl5TSQQJAO3i+etL7V0tcRQDvyGp05V3f4hbtXALoK+IAgj9J0JJHyrnyoMMYuIz2rlsSumfpHOV5AiTSXtVihIA+EjSCYCjb9zXL9qbyXWFlsyNoMw5rtrudBSvGoWzOzeIsTHmdSI5CsMjPMdjvwdoW7b96LihySARqJ0iueCKe7u3jCi5IDxMbkyAZ1qv2kJEekc/YTtTu4ot2UVQPGcxPmdCIG4EVIBcNewbhW+jOp2cMRk/wB2XnrXXDAxvqyhXhiQHkqYk6j0ovhvDMx1B/m/1p+OEi1dtFBl8Ikn/kDHWZ+1HbfIGJxRzh0Nu4v4hZa4rCBrynkIP0qs2blx2uF2zAD4RsCWBOTkRViwOC1ZiT4fBBHxCZk9I/agTwwqt5VkEFdNxGpIn0ijSw3AOHXBisPcEZQ458og/Q1esNhbudntPkjwkRObc/cCq3wPBuzIWEpbZI8UER7edWbhqXPxKkAwzT6jWdOQrow/Sgy7027RVcpu5WOWIDgxoOh0Psa8qZG1DAqQYIOv1FegdveCXLoRluhLgYd3rl18UjzmqHcu3WJN45rkwxgDbTWNJqejzaWSe7gypQnYj95pxawt2ZGi77ml2Kf8u0Z12I+tNsPjzkE7dRrV5Rrh9O8eLhAy9KQ8VwrQpfQz608tY/UQc0co+9KeMYrO4BqI049pcJg0fC3MzbajyIpZ2GdUxsnNmyzbgSM8QMwHKj+OMbVlLcLDCZHmJofsPxU2MWUCZlvqLZMSVM8vUTS6n6supd16niLQSXJgMstO+bXXyFUTtpiriHDujFSyvykHaARV14jlhgAVGTcnYHaR6zVU7T2gcPZuMxhHjQbAzMU9fHaVAbAszQWJZoJJ01YZo1Nd2OH4lZtJdKhoJSdzOYRGxqy4/hue3nAEMVkka6E6+UijOH8EDKl0AFlOaAd1gCD51l27pKJjMLdnPdOYmZPUzGtbwt1kII/k71euJ8NVvELYyRrpB3kg+dKLnARlXuxGhI08id+etK4FVfwWNezczSTmMmdjJ1n6/Orf2k468WHt24hSSQdgNgR0qonDHnO23kdZp32WunusRbLKrAeF3MwpEc6mTRJsL2pdyDm1iCRsZ0hhz33pribKKIJytBKwDBjcAn7V5/fR7TlTv16+dPRxbPaspdfNlfRQYYdHLfSK1wyuN1RTVmqG82h9K6DAaFs0c+v/AHqC62h9K6vKTOwfy09KyucKfy09Kyrh2KT+JZcQChPhYEb/ACFG4m22IbvL32jSenzrvBYTI2bck/LWi+6lyOprGYEXPwwh0yeKQTB0NE43h8WVeDtJnQjWD9asNnAr8UeLQA+p1rXG+zrX2bK5GoEHb5UssArXA+HZjqDqJB8jqD8qfYrhnd5JVmA8QI1ieo6SRVitcDQaR8ConsBl1603wmGGZumUD7f4qOw1fwfCzbABB0Wfc6mm2LwZbuCASdAfQif2plcw3gbz0om1b8C/2j7VVi1bw1slEJHxFz89OfmKIu8NK3g2XwsinqMwI+4P0plesBTbAEBY+rEmj8XanTzpaBKmFy3iNvED9TTrFYi4luSFUgMvr0iPKKBuiMQPMRSfBYxGxbrfLAKJtsT4ZmDI5ct+lFnxArtuXt4LRlPgAOhnUjMyk7HU150j6D03/wA16nxnh7Y3CNazDM5hTl6GVJ9q844pw58MxtXF8YiTyI/2+VHSLNBdvTA6f4iiuH45k21HMUtDUx4Vh8zDTQH/AL1pnxB0t3I14hiSiyigSNCOc1Wblwkyd5q4YqxmsuBtlJA3IP8AiqZcOtTg06uzDi+M7y3agahY0BPOrX2KxFuxgTiHSDZZyWHxMCTqenSlXZbi1pbJt3InMYJ5jpVi4RddWt4a1bt5GzOxJ1ZQcxWI8/pWef0Mp7b4I9nGZr63Wui4Q5TUG0CIKHyDVLjOHK9o2t1DcxP3+9G3cRbw4Zlt5bjtMaASSdYGgneKiwuJ7xJYiVGwER5VWMtxSR3OFi3YZN9txMwaP4NZizoI12+9F4q0Cp/nOucHZCJlG0mjRIcdhwyXAes/MChcFYHdWCBum3LSSPWmrjxEdQPtUIwqoEVRCgmB6mTv6mnICDivCAdeik/Ij9jVK4VhWuXci6xJn/aNYM6HlXqWLsSQOoYfOl3C+DJYQqoklJJ5k7mlcNlaqPanhXwuANefnvrVcu4fkRqBPrXpPG8HNtidAsMB1PM/ImqrdtDp5e1VenvlNB4AnIDPkRRrnSocPayiunOlaScA2w5i0vp+9ZXNo/kj0/et1cFpKdqKwQm6vr/3oRzvTDhKzdX3+1SR9Zt6qPMU0s25J9aEw6+Nf7vtTLDLqamhNYXfzNE4VdW9P3qPCagetEYQat6fvUqdv8Pv+1TKsKPQfaorvwiOpojLoPQUKB45fsPprR94SAetCYsaj0ogP+WvkPtSoAY1fzrfmazhWCANy6wUo0q06woM6DzNc32zMh2KuPkamw+HItNrGfWDtPL96Wd+Jx1wvCsjXrVy5KTmtsNCFYQVkdCRFec9rVb8QzZi6zlBPLJA/ea9B4/xVcNYD3AfgK5l3kjQAdZ29KoWItzgbFw6kxJOp1kEk89edZY3XLTHHu4IFQmrHwQnu2A3WWH2pKiFiAupOlXDCYRcPazOY01NPLLbXHCYA/xBsYZS2rvLGfOqlfUnWrrx+0ly2MrAkjwgak8xpVTwuHNy53YIVzoA2kt/p8mOsVMy0escpyi4fZl1B5sB9asvFL5S/h2GbKLsNlEnKdCNfSuV7J3rN62zBWTPqVO2U8wfLWo+1GGe4q90GZs4jLvqIJFK1n1NScLtjE7y4yTqQGgjRdlAB5xrUODwy2yyKwZQNCD5D5ayKzBPctW7Vpz+ZcXIXbckSdfaBRtjCgHMoUKFKso+pHvWmFrEJf8Ah9xW7O3uKjxdwKBmIAkamhk4vaXQuNduY+YrQh7/ABCtXdh61o3lMQwM+dauEgjnM/5phq98S/zpXDL4v+J+tSXxqtcP8XtVJC4u1mtkdVIqj3BoKvxGnuaot63BI6Ej6nSq2kJNRXG0qa4sbiKhubUUzIP+QP5zrK5b/wBj5fesqpeCpffESOY08vWabdm7RN0ECYX6mBFMeF8Ka5buA5WRB4QQM3mBzBnSuODXEUJbUkOwnLzOvhJ6GRNc/wCThpjDWzZYMpAzRPpPSmVm0fERG8bjfT/NAtindO6CszIC3g5nWRm25xND4Lidtic5Nu6AD3UgkHcgx0rO52jR5hCAoG8fz7zU1kiTO0Hb1pbhDCg8id/rE0JZ4iVc27ZzPcedeSnf0jX5VeWWsUnqPACs0ncctI3olMUAPEdjE+uwpZi8MlsrLSzkqpc8xz9NhHWaKuYS6wVUEmYYnRdBHtr9qymdq9JcRclVb+eVTWboECRG/wC9Uu/jr2EuKmLMt4iAuoYHVdf9uorWGx6XCyqZLwqrmygEiSW8xNXci1pbrCqZLSTPTlyjrvtQ+BvD8zVj3baT/p1I0NB8PdsK3deK80ZiV1iYE68p0iucfi7YZ+8dRcdgchOU6DYddKz2ek3F+EDFJbdmbVgYXQQA2YepA+tVftLgnypbwxiwqqrIP0HNEgHWN/nT7FcXtWl7xi7jfKDHwwSfYE6UTgrVoKblozdc5SI3/Uv/AJqbeFc4qnwrgZNy49u9cthWVVJCnn4/cCjMfhpW3aZmvtMO2bKVJkKQNjyMVLdt3GVltEIRLQSDBJnUcpE+9V04LFkWwIa5duAfFs3wpPQUpRM/s84JdXChxlUkLAdtWLKOuwBOkDrR+IwqXnw967bdHtnN4DBMSQrxsZAgzPKob39P8QCgF1XuBGJGqhj8QVZ3Oke1OcTwBymV27tkZWgbSPFBjkOdOEW4Xi91kbubTjvSzG7dI8EwJHKBrAAoLh2CSziC1+8xJzMl0sNWkDT9J0B5c6IxOKNuwRevSweCijLoZOnlG1I14pZvFe+Um7bByKNp1gnqQMulO3dC/wCMui4batJMgKSNCf8AVPppFQYvBPYjNdBzNsRzJ+o/xSXBdrLdxALua2w6nnoQf7iNa2cY7XFYISDmIJOYHoddtNaeWfaXFd9q2/JJBkBhM677D5VUvwLZocFNdNxIIBBAPrVg7YcctGwbbOTeuIrZQNAVGgkek1crL28RZsuyo6XLaElhB2A0jzH0rL8lnleOG3m7K4GlzQciI+ooDE8avAylwqwjmSNPI16PxDsDZcTbZrc8pzD/AKaqvEv6dX7YJC94OqnX/p3qp1JRcSrDdusYoh7dq6BzjKfYimeC7fKzqtyzcRjsQQwqt4rAMpysCpHJvD9DQN4XF1nSdK0maNPT17VWjb7tjBUc4ESQ2b5ae9V8cNe7cuBYyFsxMg+hUbzqapd3ibEQ6zUuH4mo18SnbnV925otLhieDhbtpbpIDMA5G4Ea+m1D3uzhh8hLQYSNZAmdtjSUcSkg55Pnr96a4HtK1r9KsJJ6annpS+WtSnwY3eCvdtBLZAzKDmaQCREkkjesrk9q1cEXFOU7DfaI15c6ynjcpNFo+7K8My63mJvXEysjbL5abnagOLKLX5dpArrqDrpEAHN6VVOyXbK6mMt/ibme23hJbkYOQjoZiTXotvDDEWu8DpcRpAVT8SqeZmQMw+lZbN5zwDtG2GvXWuEmdGXfWdweQk0JYuYjEXb34dGuc2ZQJEk7HmeVFXcThS7LZRUe7KNnnLJIUATt4udNuzmfhi3BfIyPlZWQEyRIAJGsbUbI3wmGxD8NtgLlZFykOcrFhJ0Hv9aqfD8YVxKvdZ7RmC+XMB0PT4hRfaDtn33d3LOZLgP5hk92xHwtB1kR6a1bsPcRuG4m8qrcVg2URIZ3JJK+Uk0eeQaDBJfUKGJOURcAjKwjxiRrO+lCcZ7VDBWTbbMxH/tuuocgzrGoI1B9KoFn+ouLtFgERSNiZ8K6CMp00jelPFuN3cSzPcbeCBso32A23PzqbdHte+3N61cw1vElx35VQuQ+EhpZhB1kTv1rz6xjXZ1RTDbDTXfXUc66xOIdgqsWhVAVeWojwgbA86t/Ef6ai1YTE2HYOArFGGxI2B9dI86Mci8pOw3apbLsl52W7fYBGJBUBBIEn4TmI30qbt/Ys4y2+KsXQ7WPDcRSCVElQTpyO/UGqBxDCXAwLg6Az6bnb1FMcB2qv2cMyotsS8B2AJOgGUrEMCJ+dHdKe+TDDfnYC9fdiO7BUBYI8OQMWOsAkqPnRnZd8Uto4tR+VaIkN+pCYdljmvnVKfFXDcbMSO93Cyq6/wCxOWgEeQq34LtJiMPatoLIa202pYxmGo0HUTU2xVuzbtHj7LBShnEM4GZDoywSZPPdY84pDxnHXsO6PauOjgkEQIDbiAdpn50m4Visl20XkhHUkDc5T8Iq49p+GXsbfF7JbS1bUErqHZgQfzNoPmNqruhTlH2Z7VYrA3l/Hi73bsGa6xLFRlIIgbgkj3q84dLl68cRdIVMmdFEggFQTnnmFI086UdqbyX8P3NzKFygB8xYrK/q6xVbw39SLqm4FtqbnwBgxZYEKTkO5gfWiUVrthc74PdtqTkMM+wI3ED9TAH61W+FWnu3VS2SWYwI0I5kx0gVPj+0TrabDvl8YkaglWmSMo2EcqWcMe4Lid0xRz8LDfxSs+00tp2Z9oODXrBQ3g3dd4Fg76anUbyJjWrhiO0uGsomVs6BcqBZmAcsSf1fsKbcVxWHbAst0NftgELcJ8TlDpJiVPL0ryDGWmVssEKGJHMex/UQI1oy1R4Wjs13eJx2V7UIEdhqSVEEAfMiKuv9O7xuWLuFuiWwl0oD/sYkr8jnqgdguI3LeLlICkTeLRoq8hmiCdverlwPiHdcXulQwXF2SyqCDLLqPeM1RlrTXp16DswURliD1kdOtFoPOeXSl2GgFWUaXFI118Q1G/XWj7bHLIEE6kfSsW6HGcMt3QRcRWB6gGqzxj+mWHuybbtaY7fqWfRtquR9K2afdYVjxjif9LsVbJIC3lg/AYMxoCh3k6b86qONwRRspVlPPMCuvkDvX0qw6UHjuH2roi7bVx/uAMehO1aTOovTfNptV2gPI17FxT+leFujNZZrLeRzLP8AadqqHFP6YYuxqqreXqhg+6n9q0nUjPssVNXbrNbqe/h2Q5XUqRyYZfoaytPyJ0TtYJ1A0EfOnvBMLft2bhR2CANIBAB0KnXrqdOta4XgXZbjLqpXSN53gE+QNNL2HKWPifRcxTb4o1mOhmsZtMVh1KFGXKcpDD1UgijeI9o715MpMKCIUfMA+U61M9nKkBBAYrmZdSdhBoDD4QEx060/4QrgnDEuORddkEAiBM+Wvyr0jC4W41i3ZDnul2TQAgenOq1wrhv5asyeIiPQA/vvVgTHOloqkDKfCGBPtA+9advB+FZ7RYS2oylWzgsOoAnfyHKkOG4eSwmNARrsSNBGm9Xe/wAEN51vNaf8wsHto8zAOokaSdYocYMreS3bUlULMTMsNmZdoU6jWoylAPg3Ck/FW3YjKQRrEAiFGh1Ov3q19pcaQMiM8OTCnQCGBUjmBNVXitthdJdUVQoUhZzASIILD4tqc4ZCVZSLhZIXMxGgPiG0ydPrWcxuzisYvh+ec4MMTMGPhGkDzG9R8O4fbuNkdFNvKSrEmSd500kU24yrLJMxEaQOW/rSG1hchzAOdDE+AQRz6DzqrCoSxw0tdUQpKiTJ1jy9P2o7HSDbB+IZyogxMakk+n1ozhOEd8QVt6uqSkgQIK5pPPQmp+K4Zs+Xd0Xf9UE+KByqLNnCrsl3H4u095B3VuS0gvLgHKSOk1cb3HEuO/dL8cnK2hyz0PUVTLqAQQpQk6gHRp0OUbirBg8K6APAJPPM2v00qpjwBONud4vdnxSpbKFYz0210iq3geFHOA6vbjnAWNNZPnEVceCoTezAKsIRIBmdJgzvUXaTGZlfQlZXYTqCCdfTlWGfVuN7Wkx2hvcDRluA2/HmWCAJJOh13EGguMcGt4TE2nXM+Vh4WIygqORAk9Y51bRhld51BLFumYSTBofi/DFdbeURlYyPY/4rXp7uKcsVex3aEXVVEUIoBKZjvJMmRzJHOkWNwwu940EErmUrED1mTvTzifDWtorZYyoMukyY09BrvXfBeDHIueM0MHgHSTIGtVq7JVMDhyH2AmT8M6Hcb6z6U7s4wJicJcDZRbyox5hSSCoHUkxPIUv4lhIdvA4KuBm5mOg58vameLwBbDG6EHeBSQQIjxEyepjalZyMfL1fDJnCiYKGCOkE6fL70dZuBnP+pTMdQf8AFLOz+MV8LauqAGuWluEDmSNfqDTEXIEgeMiT19KydQgPpNdx70O7FQCBqSCw9dDRCGkHMedclxXZ5edQXR8NUEiqCDrE10o0HWhlbaPlXYeJnlQGsVw+3dA7y2r/ANyg1qilPWso5J5nwjhISFElVzD5axNR8Z4KLioM5A0DCPeesirHgsMRaLc4JjpPnzoPELLL67V2SOaxTO1HBxaYAM0EZiNd9ienWosFwecSq22BAPiaCBH/AI+9XvtfhiRIgZRocoPsQ1VXs3f/APUFT1JEgSdgdRsBtWcnyLwtOM4UAi5dgoOvyH2pRiL95M8wgcaXBB2566adKsmPuxC+Wn31qqcfVrlwWhn1UZtVKxMBlB+FgdxzFalVm4FFzD2jJIJMmIkkmdOVF/hyhueEBWIynyjUH3FA8CzKqozZspbWAOZA26U2uvOY8ghEecjWnT0oPGcS6YolYJaJ5GB4SPFpNXG1hcux1eCZg/pEajciaq+Os95ikUgldVbUAkGB7GriQBCjYCB6CAKmGrna/BkqQF8508p+lUTEWDPiysugltYCRvl5b16F25ZVQTzYZdNCQvODtVe4NwtXwt8n4lbMumikQfDzPPepymyobs4V75lbwKLTkDMRlIUnUjUiKIWy1xszfGkAyTmA31kag0V2Y4Sb1zUg29QZGpnQyd9wT7014gPD57T5TRjBFfx3DAwDmQF1EfOm2EsnubeYQSJ+pIrjFISttB+qR95+gpzi0hUA2A/bSnrR6S4S1AkbkGY0pBxoAWiQAMyBjpzlad4J+XrSbjZ/J/8A5fuK83/o/wBG2JyjGQ3PQ/PeiTh80DqZoa0JA9BTLBvJB6GPlrXd0P0jLLyB7VYEjDgKJOQDSoLClQ0CdCAPQaa8qsXGfhUdAKUJb0PlWuiVN+EXrtwswKIX0jXxALmLDoTInyp7iuHju2t7jLA+UVOlwnMs7mflRGLXU+gNOQTgD/TG8r4QW2Piwtx7ZHkWLJr6E1bsO4cnSChrz3soCmMx9gGMwt3h7SpP1FehC7plGjsoafPSfvXJnNV043hu3bDNm1lSQRRFpN+hgj5a1p3KjzjX5xXQcbep+0/eo0e2RQt1vh9KMbnQGMX5AfemHIbbpNSht+cfyaXrf61Mt7pyp6AtG8PWsri3d8Mj09a3RoP/2Q==

 

ĐÁM MA TO

Khi một người thân ra đi mãi mãi sẽ đem lại cảm giác vô cùng đau thương cho những người thân của mình :nước mắt sự đau đớn cất lên thành những tiếng gào khóc xé cả tâm can có thể sẽ làm vơi bớt nỗi đau của họ .Một số đám ma ngày nay thì không hẳn như vậy .Với một số gia đình giàu có sang trọng thì đám ma của họ phải thật "xứng đáng" .Phải là tiếng kèn tiếng trống thật to thay thế được nước mắt và sự mất mát ấy mà người ta muốn khắp thiên hạ đều biết đến .Người ta nói đùa với nhau :"Người chết cũng bán được" tức là "tiền viếng" đối với quan sếp phải thật "xứng" .Người ta có thể kiếm được lợi sau cái chết của người thân mình? Điều đó nghe thật xót xa biết bao .Ở một số tỉnh thành còn có hiện tượng "khóc mướn" .Đám ma mà tiếng gào khóc càng to càng chứng tỏ con cháu "có hiếu" đối với người đã khuất .Nhưng đó không phải là của người thân mà là "khóc mướn" của những người không chút tình cảm khóc vì tiền .Con cái trong nhà lập ra những bàn "nhận tiền viếng riêng" .Người thân quen hàng xóm có liên quan có thể đi viếng "một phong bì" hoặc "nhiều phong bì" cho một hoặc nhiều người trong gia quyến đó tùy thuộc vào mức độ thân quen qua lại .Đã là đám ma thì phải có "rượu thịt" để thiết đãi đội kèn trống những người di dự .Mà tiệc cũng phải "thật to" thì mới xứng với một "đám ma tươm tất" .Mặc kệ người ta đau đớn bối rối sơ xuất .Kèn trống đám ma thường là những làn điệu nỉ non réo rắt của những bài dân ca ru con .Đó là ý nghĩa ru người ta vào giấc ngủ ngàn thu .Bao bon chen đau khổ của một đời người dù tốt dù xấu khi đã mất đều được mọi người bỏ qua .Chỉ còn là giấc ngủ bình yên để trở về với đất mẹ với cội nguồn .Nhưng các điệu kèn trống ngày nay rất "mốt" .Đó là làn điệu của các bài hát quen thuộc mà người ta có thể nhẩm lời theo nhạc .Chỉ khác là chỗ nó được nỉ non lắt léo bởi tiếng đàn bầu đàn nhị tiếng kèn trống mà thôi .Người ta có đám ma thì phải mở nhạc thật to .Mời sư đến đọc kinh cũng phải mở loa thật to và mở với bất kỳ giờ nào bất luận sáng sớm giữa trưa hay tối khuya để "thông báo" cho mọi người biết :nhà chúng tôi đang có tin buồn đang rất đau thương .Theo tục lệ thì đám ma càng nhiều người đưa rước càng thể hiện về sự giàu sang quen biết rộng của gia quyến .Những chiếc xe khách bắc nam những chiếc ô tô xe tải xe con nối đuôi nhau theo đám tang dài hàng mấy cây số chỉ có tài xế bên tong làm tắc nghẽn những đoạn dường mà đoàn xe đi qua .Không chỉ gây ô nhiễm mà còn lãng phí nhiên liệu một cách vô lý.
 Cuộc sống luôn trôi chảy diễn ra theo quy luật của nó .Con người sinh ra và chết đi .Khi một người nào đó xa rời thế gian này thì những người thân những người xung quanh cảm thấy đau xót khi mất đi một người từng hiển diện trong cuộc sống của họ .Tiếng nhạc đám ma là để xoa dịu nỗi đau cho người còn sống và ru cho người đã mất được ngủ yên .Sự quan tâm giúp đỡ của bạn bè làng xóm là để san sẻ bớt nỗi đau đối với gia quyến người đã mất thì nay bị biến thể bị người ta lợi dụng để kiếm chác và thể hiện mình .Lẽ nào những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã bị một số thành phần tiêu cực làm hoen ố giá trị tinh thần tâm linh ?Cuộc sống với nhiều mặt tiêu cực của nó đặt ra cho chúng ta những suy ngẫm và thúc giục chúng ta phải làm điều gì đó để cuộc sống tốt đẹp hơn mà vẫn giữ được những giá trị truyền thống từ lâu đời của dân tộc ta.
                                             (Mưa sao)
          (Trần Thị Thùy Minh_Lớp sp văn k33_ĐH QN)

More...

Danh sách hội viên - SP Văn K33.

By

DANH SÁCH HỘI VIÊN

CÂU LẠC BỘ VĂN NGHỆ TRẺ

     A. SƯ PHẠM VĂN K33:

  1. Bùi Thị Thương
  2. Lê Hứa Huyền Trân
  3. Nguyễn Thị Hương Lài
  4. Phạm Thị Rơn
  5. Trần Thị Thuỳ Minh
  6. Chu Thị Lý
  7. Trương Thị Thảo Ly
  8. Trần Thị Diễm My

More...

Thơ: HẠ THƯƠNG (Phạm Tuấn Vũ - SP Văn K32).

By

 

      HẠ THƯƠNG

              Tặng các anh chị năm cuối

     Hạ vào nhanh thế hạ ơi
Mùa thi vừa mới qua thôi. Hạ vào.
     Trên cành gió hát xì xào
Sân trường bỗng ngập nắng đào sớm mai
     Một ngày ve bỗng thở dài
Tiếng ve than thở cho ai buồn lòng
     Một ngày phượng bỗng chớm hồng
Cánh hoa rực lửa đốt lòng héo hon
     Bằng lăng hoa bỗng tím hồn
Một ngày hè phố nhập tràn cánh hoa
     Một ngày ta chợt nhận ra
Thời gian là một  khách xa qua đường
     Rồi đây xa cách mái trường
Xa thầy xa bạn người thương xa rồi....
     Hạ vào nhanh thế hạ ơi
Mùa thi vừa mới qua thôi. Hạ vào...


                                        Phạm Tuấn Vũ

More...

Thơ: MƠ (Trần Thị Thùy Minh - SP Văn K33).

By

alt src=http://fs1.cyworld.vn/data4/2010/01/21/171/thumb_flex-1264058771475947_file.jpg

 

 

 

 

Vào một ngày mệt mỏi
 
Lật lại trang sách xưa
 
Câu chuyện cổ vẫn vậy
 
Mà ta đã khác rồi
 
Chuyện đưa ta vào mộng
 
Vào cái thuở ấu thơ
 
Ta chẳng chút bận lòng
 
Nên suy tư mơ mộng
 
Mơ thấy cánh diều nhỏ
 
Bay cao tít trời xa
 
Mơ thấy ngày nắng to
 
Ta và bạn trèo khế
 
Rồi rong ruổi khắp nơi
 
Vào thế giới cổ tích
 
Nhưng giờ đây ta lớn
 
Sắp thành người trưởng thành
 
Để làm điều có ích
 
Sẽ thực hiện hoài bão
 
Từ những giấc mơ xưa
 
Cảm ơn về tuổi thơ.
 
                           (Mưa sao)
 
(Trần Thị Thùy Minh_Lớp Sp Văn K33_ĐH QN)

 

More...

Thơ: TIỄN NGƯỜI ĐI (Dã Phong Bình - TH Văn B K33).

By

 

TIỄN NGƯỜI ĐI

 Anh sẽ bán linh hồn cho cát bụi
 Gom mây về
 Đổi lấy niềm vui
 Xua u mê
 Tìm lối đi về
 
 Anh sẽ hát em nghe lần cuối
 Câu tự tình
 Trong dĩ vãng chưa nguôi
 Lời than khóc
 Của một thời
 Hoang dại
 Rơi hoài rơi mãi
 Nuối tiếc theo mưa
 
 Anh sẽ khóc bên em lần nữa
 Rồi em đi!
 Tiễn biệt tình đầu
 Bướm xa hoa
 Đứt đoạn niềm vui
 Ôm mê man ngậm ngùi thương nhớ lê thân tàn làm lũi với trăng sao
 Cõi vô vọng
 Lộn!
 Nhào!
 Xé nát cơn đau.
        5/4/2011
       dpb

More...

Ký Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945.

By

Ký  Việt Nam từ đầu thế  kỷ đến 1945 
PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn 
Viện Văn học
 
Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết vốn cĩ sự ổn  định tương đối về đặc trưng thể loại các tác phẩm ký tuy cùng nằm trong loại hình văn xuơi tự  sự song lại là tên gọi chung cho một nhĩm thể tài cĩ tính giao thoa giữa báo chí (chính luận điều tra ghi chép tư liệu tường thuật sự kiện...) với văn học in đậm dấu ấn “sự hợp nhất truyện và khảo cứu” (M. Gorki) và thường cĩ tính xã hội tính thời sự sâu sắc bao gồm nhiều tiểu loại thể văn như bút ký ký sự phĩng sự tiểu thuyết phĩng sự du ký hồi ký nhật ký tuỳ bút tản văn tạp văn tiểu luận (et-xe)(1)... Đặc điểm sự giao thoa này càng trở nên rõ ràng khi mà bản thân thể tài ký cịn đang trong quá trình hình thành và phát triển khi mà ngay đường biên thể loại giữa truyện ngắn và ghi chép giữa tiểu thuyết và phĩng sự đơi khi cũng chưa được phân định rõ nét. Đây cũng là đặc điểm chung của văn học Việt Nam ở giai đoạn bước đầu hiện đại hố đang từng bước hội nhập vào nền văn học cĩ tính chất tồn nhân loại.  

 

Trên thực tế nền văn học dân tộc thời trung đại nhất là ở  giai đoạn hậu kỳ cũng đã xuất hiện nhiều tác phẩm ký xuất sắc như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1720-1791) Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ (1821-1882) Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký (1837-1898)... Bước sang thế kỷ XX cùng với sự phát triển vượt bậc của chữ Quốc ngữ và việc ra đời các loại báo tạp chí các nhà xuất bản khắp trong cả nước thì thể tài ký cũng xuất hiện và mau chĩng giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn học. Ở đây trước hết phải ghi nhận những sáng tác cĩ ý nghĩa đặt nền mĩng của Tản Đà (1889-1939) - người đã cĩ cơng “khai sinh cho nhiều thể văn trong văn học Việt Nam buổi đầu thế kỷ” - đặc biệt cũng chính ơng là người đã đề xuất và tự mình khai bút cho mục “Việt Nam nhị thập kỷ - Xã hội ba đào ký” trên An Nam tạp chí (khơng đều kỳ 1926-1933). Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã sớm xác định vị trí thể văn bút ký của Tản Đà: "Nếu kể Việt văn thì trong khoảng mấy năm 1915 1916 1917 Nguyễn Khắc Hiếu đã viết nhiều bài phiếm luận cĩ tính cách bút ký vì ơng đã căn cứ vào cuộc đời để phát biểu tư tưởng của mình. Chắc nhiều người cịn nhớ những bài: Luận về ăn ngon Thằng người ngây cưỡi con ngựa hay và nhiều bài khác nữa trong Đơng Dương tạp chí của thi sĩ Tản Đà”(2) 

Gắn liền với sự  phát triển của báo chí trong vài ba thập niên đầu tạp chí Nam phong (1917-1934) đã đi tiên phong trong việc in các tác phẩm ký nhất là loại du ký - du hành ghi chép và tuỳ bút. Bên cạnh phần trọng tâm là các trang khảo cứu biên dịch bình luận các vấn đề chính trị - xã hội - văn hố là nhiều mục bài ghi chép du ký - du hành với những đĩng gĩp đa dạng của Phạm Quỳnh Thiện Đình Nguyễn Trọng Thuật Nguyễn Tiến Lãng Đơng Hồ Mộng Tuyết... Khi thực hiện cơng trình Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong 1917-1934 nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký là một trong 14 bộ mơn và nêu nhận xét về thể du ký - cịn được ơng gọi là du hành - trên Tạp chí Nam phong: “Trong mục Du ký này phải kể bài Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng Mười ngày ở Huế Một tháng ở Nam kỳ và nhất là Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”(3)...  

 

Bước sang thập kỷ  ba mươi thể tài ký Việt Nam cĩ bước phát triển vượt bậc cả về lượng và chất. Cĩ thể nĩi cùng với sự trưởng thành mau chĩng của ngành xuất bản báo chí cộng hưởng với tinh thần cởi mở dân chủ hố một bước đời sống tư tưởng xã hội đã gĩp phần quan trọng tạo nên bước ngoặt của hoạt động văn học nghệ thuật. Trong bối cảnh chung ấy tất cả các loại hình và thể loại văn học như thơ ca văn xuơi kịch dịch thuật biên khảo... đều thu được thành tựu lớn lao. Nĩi riêng ở thể tài ký cũng nở rộ các thể văn như phĩng sự bút ký tản văn hồi ký du ký ... từ đĩ tạo nên diện mạo chủ yếu của lịch sử thể tài ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.  

Phù hợp với tiến trình văn học sử 1930-1945 nĩi chung sự phát triển của thể ký giai đoạn này cũng cĩ thể  chia thành hai chặng đường lớn: 1930-1939 và 1940-1945.   

Ở chặng đường nằm trọn trong thập kỷ ba mươi thể loại ký về cơ bản đã định hình phong cách nghệ thuật với các thể văn như phĩng sự hồi ký nhật ký bút ký ghi chép du ký... Đặt trong dịng mạch phát triển chung việc xuất hiện phĩng sự Tơi kéo xe của Tam Lang (Hà thành ngọ báo 1932; Trung Bắc xuất bản 1935) cĩ ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết tác phẩm vừa xác lập dịng chủ lưu của thể ký nghĩa là chính thức đưa thể văn phĩng sự lên ngơi đồng thời mở đầu cho một kiểu loại văn học mới. Trong quá trình phát triển thể loại văn học cịn chưa rõ ràng song vẫn cĩ thể định danh được các tác gia viết ký tiêu biểu của thời kỳ này là Tam Lang (Vũ Đình Chí) Trọng Lang (Trần Tán Cửu) Vũ Trọng Phụng Ngơ Tất Tố Nguyễn Tuân Phùng Tất Đắc Lê Văn Hiến v.v...  

Như đã nĩi trên Tam Lang là nhà văn giữ vị trí chiếu nhất trong làng phĩng sự Việt Nam hiện đại. Cĩ thể khẳng định tất cả các tác phẩm của ơng như Tơi kéo xe (1932) Đêm Sơng Hương (viết 1932 in sách 1938) Lọng cụt cán (1939) Người... ngợm (1940) đều sớm đạt đến giá trị nghệ thuật chuẩn mực cổ điển. Qua các phĩng sự này Tam Lang đã nhập thân sâu sắc vào cuộc sống hàng ngày của người phu xe (Tơi kéo xe) kiếp sống long đong của gái làm tiền nơi sơng nước (Đêm Sơng Hương) và tiếng nĩi châm biếm sâu cay bọn quan lại nghị gật (Lọng cụt cán)... Trên phương diện tư duy sáng tạo vai trị chủ thể giữ ngơi thứ nhất vừa là người trải nghiệm trong cuộc chứng kiến chuyện “người thực việc thực” vừa là nhân vật thuật chuyện kể chuyện trình bày rõ những điều tai nghe mắt thấy. Từ năm 1942 nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã nhận định: “Dù ở tác phẩm nào của Tam Lang người ta cũng thấy cây bút của ơng là cây bút tả chân và châm biếm; ơng nhạo đời để răn đời chứ khơng bao giờ cĩ giọng độc ác. Bởi vậy nếu xét kỹ người ta sẽ thấy trong những tập phĩng sự và những tập châm biếm trào phúng trên này những tư tưởng thật là bác ái bao giờ cũng cĩ cái khuynh hướng bênh vực hạng người nghèo khổ kém hèn mà bênh vực vì lẽ phải vì nhân đạo chứ khơng xen lẫn một ý nghĩ chính trị nào”(4). Đến cuối thế kỷ nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh sau khi khảo sát các phương diện nội dung và nghệ thuật tác phẩm cũng khẳng định: “Với quyển Tơi kéo xe đã cĩ thể coi ơng là người cĩ cơng mở đầu cho thể văn phĩng sự ở nước ta. Hơn thế ơng cịn là một trong số hiếm hoi những người cĩ tài năng cĩ cống hiến đặc sắc độc đáo vào thể văn châm biếm trào phúng trong văn chương Việt Nam những năm ba mươi của thế kỷ XX này”(5) 

Nối tiếp là Vũ  Trọng Phụng - nhà văn được bậc khai quốc thể  phĩng sự hiện đại Tam Lang ghi nhận là đã vượt lên và tiến xa trên nhiều phương diện. Điều đáng nĩi là phĩng sự sáng tác của Vũ Trọng Phụng nĩi chung đều nằm trọn vẹn trong thập kỷ ba mươi với các nhan sách nổi tiếng như Cạm bẫy người (1933) Kỹ nghệ lấy Tây (1934) Cơm thầy cơm cơ Lục xì (1937) Một huyện ăn tết (1938)... Các phĩng sự của Vũ Trọng Phụng thể hiện rõ sự đa dạng về đề tài về khả năng phân tích sự kiện và tâm lý nhân vật về tầm bao quát nội dung xã hội cũng như nghệ thuật dẫn truyện. Vũ Trọng Phụng đi sâu phát hiện vấn đề miêu tả sâu sắc nhiều trạng huống xã hội mới nảy sinh như nạn cờ bạc đã được nâng thành kỳ nghệ (Cạm bẫy người) nghề me Tây mới phất (Kỹ nghệ lấy Tây) cuộc sống đời thường muơn mặt của những con sen đứa ở (Cơm thầy cơm cơ) thế giới đầy nhọc nhằn của bọn gái làm tiền (Lục xì) và đủ lối làm tiền tham lam trắng trợn của tầng lớp quan lại chốn hương thơn (Một huyện ăn tết)... Ngay từ đương thời nhà phê bình Trương Tửu đã phân tích sâu sắc những giá trị tư tưởng và nghệ thuật mang đầy tính nghịch lý trong mạch văn phĩng sự của họ Vũ: "Ơng làm phĩng sự về con bạc làm phĩng sự về đầy tớ làm phĩng sự về gái điếm làm phĩng sự về me tây. Ơng viết ra bốn quyển kiệt tác: Cạm bẫy người Cơm thầy cơm cơ Lục xì Kỹ nghệ lấy Tây - nền mĩng đầu tiên của nghệ thuật phĩng sự trong văn giới Việt Nam hiện đại. Viết bốn quyển ấy ơng muốn lột trần cái hạ đẳng của xã hội. Trong các trang giấy đĩ khơng cĩ sự khinh bỉ khơng cĩ lịng thương hại khơng cĩ ác ý mỉa mai. Ngịi bút ơng thật là khách quan và vơ tư. Ơng sợ cái đời hạ đẳng ấy. Cái sợ này rất chính đáng. Ơng đã thừa biết bọn người khốn nạn kia khơng bao giờ chờ được ở xã hội một cứu tế thiết thực. Đĩ là hạng người muốn tiêu trừ hơn là cứu vớt. Rơi xuống cái đẳng cấp ấy tức là trầm luân mãn kiếp và bị diệt vong... khơng để lại tiếng vang nào"(6). Nhà nghiên cứu Nguyễn Hồnh Khung xác định vị trí văn học sử của bộ phận phĩng sự: “Vũ Trọng Phụng chỉ nổi tiếng từ những phĩng sự Cạm bẫy người Kỹ nghệ lấy Tây. Là một trong hai người viết phĩng sự đầu tiên Vũ Trọng Phụng đã cĩ cơng lớn trong việc nhanh chĩng đưa thể loại văn xuơi này đến chỗ thành thục cĩ vị trí vững vàng trong văn xuơi quốc ngữ... Ơng là một trong số những người mở đầu và là người cĩ cơng lớn nhất trong việc đưa thể loại phĩng sự ở Việt Nam đến thành thục”(7). Qua thời gian dài việc đánh giá về Vũ Trọng Phụng ngày càng khách quan sâu sắc và tồn diện hơn ngày càng nhận thức khoa học hơn những đĩng gĩp xuất sắc của dịng văn phĩng sự đối với sự phát triển chung của nền văn học hiện đại.  

Tác giả Trọng Lang cũng là cây bút viết phĩng sự sớm và chuyên nhất với thể văn này trong một thời gian dài. Các tác phẩm chính của Trọng Lang cĩ Trong làng chạy Đời bí mật của sư vãi Gà chọi (1935) Đồng bĩng (1935-1936) Hà Nội lầm than (1937) Làm dân (1938) Làm tiền (1939); và sau này cịn cĩ thêm Thầy “lang” Vợ lẽ nàng hầu Những đứa trẻ (1941-1944)... Các phĩng sự ghi chép của Trọng Lang in khá rõ phong cách điều tra kể chuyện khai thác tư liệu thực tế. Nhà văn đã mở rộng diện đề tài bao quát cả những khía cạnh đời sống tinh thần phong tục tập quán và thực trạng những lối sống mới đang nảy sinh. Ở đây cĩ cả thế giới muơn màu vẻ của bọn trộm cắp (Trong làng chạy) đời sống nhếch nhác cùng cực nơi thị thành (Hà Nội lầm than Làm tiền) và muơn mặt những tệ nạn sau luỹ tre làng (Làm dân Xơi thịt)... Nhiều trang viết thực sự sinh động phơ bày được những gĩc khuất tối của bọn người trộm cắp đồng cốt gái làm tiền tệ nạn thuốc phiện... Khơng chỉ phản ánh và bộc lộ thái độ trước các vấn đề xã hội mà Trọng Lang cịn tỏ bày khuynh hướng tư tưởng chỉ ra những nỗi cơ cực đau xĩt của lớp người “làm dân” dưới đáy xã hội. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan từng khái quát ý nghĩa sáng tác của Trọng Lang: “Trong số các nhà văn viết phĩng sự gần đây Trọng Lang cĩ ĩc phê bình hơn cả. Văn ơng đanh thép và sắc cạnh chuyên về tả cảnh nhiều hơn tả tình... Muốn hiểu tâm hồn những hạng dân quê đã bị “lây” ít nhiều thĩi tỉnh thành phải đọc những phĩng sự của Trọng Lang; nhưng muốn hiểu tâm hồn những người dân quê cịn đặc quê mùa cần phải đọc những tập phĩng sự và tiểu thuyết phĩng sự của Ngơ Tất Tố”(8).   

Ngơ Tất Tố viết khá nhiều phĩng sự ghi chép tiểu phẩm báo chí.  Ơng là nhà phĩng sự xuất sắc viết về  đề tài nơng dân và làng cảnh thơn quê trước Cách mạng đặc biệt với các tác phẩm Tập án cái đình (1939) Việc làng (1940) - trước đĩ cịn cĩ tập Dao cầu thuyền tán và nhiều tiểu phẩm văn học khác. Là người cĩ vốn văn hố sâu rộng và thơng thuộc nhiều mặt đời sống dân quê Ngơ Tất Tố đã phản ánh được bức tranh xã hội rộng lớn bao gồm từ phong tục tập quán đến cuộc sống thường ngày từ nỗi khổ cùng cực của người dân đen đến muơn mặt tệ lậu đám chức dịch. Ngơ Tất Tố xứng đáng được coi là nhà xã hội học nghệ thuật ngơn từ xuất sắc bậc nhất về nơng thơn Việt Nam trước Cách mạng. Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ nhận xét: “Trong hai phĩng sự Tập án cái đìnhViệc làng Ngơ Tất Tố tìm cách phơi trần những sự thật xấu xa về các hủ tục ở nơng thơn xem đĩ là một cái gì vơ lý “quái gở” “mọi rợ”... Việc làng đã gĩp phần lên án chính sách ngu dân thâm độc của đế quốc Pháp ở thuộc địa đã tố cáo những thủ đoạn bĩc lột của bọn cường hào lý dịch ở nơng thơn và là một địn đánh rất mạnh và trực tiếp vào chủ nghĩa phục cổ”(9). Về tiểu phẩm báo chí Ngơ Tất Tố (với các bút danh Thục Điểu Đạm Hiên Thuyết Hải Thơn Dân Tuệ Nhỡn Hy Cừ Phĩ Chi Xuân Trào Lộc Hà...) cĩ nhiều trang viết sắc sảo giàu tính chiến đấu giàu ý thức dân tộc...   

Mặc dù trong ký  cịn cĩ sự giao thoa giữa các “thể” và  “tiểu loại” song Vũ Ngọc Phan đã định danh những người viết bút ký tiêu biểu của thời kỳ này: “Lối văn này khơng mới nhưng nhiều người vẫn cho là mới đối với những loại văn sản xuất gần đây. Nếu kể Việt văn thì trong khoảng mấy năm 1915 1916 1917 Nguyễn Khắc Hiếu đã viết nhiều bài phiếm luận cĩ tính cách bút ký vì ơng đã căn cứ vào cuộc đời đã phát biểu tư tưởng của mình... Gần đây những nhà văn viết bút ký cứng cáp hơn cả là Nguyễn Tuân và Phùng Tất Đắc(10)... Với Nguyễn Tuân tác phẩm của ơng cĩ khi được gọi là du ký như Một chuyến đi (in báo 1938 in sách 1941) cĩ khi là phĩng sự như Ngọn đèn dầu lạc (1939) Tàn đèn dầu lạc (1941) - trong khi Vũ Ngọc Phan cho đĩ “chỉ là một thiên phĩng sự về thuốc phiện chia làm hai quyển mà đáng lý phải mang chung một nhan đề: “Ngọn đèn dầu lạc” - hoặc tuỳ bút như Chiếc lư đồng mắt cua (1941). Các tác phẩm ký của Nguyễn Tuân cĩ tính chất tiếp nối giữa hai thập kỷ ba mươi và bốn mươi. Ngồi ra tác phẩm của Nguyễn Tuân thể hiện rõ hơn hết cốt cách nhà văn và tính chất hỗn dung giữa các thể văn. Vũ Ngọc Phan đã nhận xét đúng mức: “Ơng là một nhà văn đứng hẳn ra một phái riêng cả về lối văn lẫn về tư tưởng... Những bài bút ký những truyện ngắn truyện dài của ơng (...) đã làm cho văn giới Việt Nam phải chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ơng và những ý kiến cùng tư tưởng phơ diễn bằng những giọng tài hoa sâu cay và khinh bạc lúc thì đầy nghệ thuật lúc thì bừa bãi lơi thơi như một bức phác hoạ nhưng bao giờ nĩ cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn”(11)... Với Phùng Tất Đắc thực chất ơng chỉ viết một số tản văn tạp văn trên các báo Đơng Tây Nhật tân và tập sách Trước đèn (1939). Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan xếp Trước đèn vào thể bút ký nhưng cũng gọi đây là tập “phiếm luận” “nĩi chơi” “lời bàn phiếm”... Như vậy các sáng tác của Nguyễn Tuân Phùng Tất Đắc đã bổ sung thêm dịng phong cách nhấn mạnh vai trị chủ thể khả năng cảm luận phiếm luận để rồi sau này phát triển hồn chỉnh thêm ở các tác phẩm tuỳ bút bút ký.  

Nĩi đến diện mạo lịch sử ký Việt Nam thời kỳ này cần phải ghi nhận vai trị của nhiều cây bút đã viết ghi chép phĩng sự điều tra nhật ký hồi ký du ký. Ở đây cĩ những trang tường thuật cuộc sống người nghệ sĩ như Trương Đình Thi với Tơi kép kịch (1934) Trần Tiêu cĩ phĩng sự điều tra Thanh niên thơn quê (1938). Về hồi ký cĩ Lê Văn Hiến với Ngục Kontum (1938) đã kể lại cuộc sống lao tù khắc nghiệt nhưng đầy quả cảm của những người cách mạng. Ngồi ra cịn cĩ nhiều trang viết in báo ngắn gọn mang phong cách du ký (bao gồm đi thăm di tích lịch sử danh lam thắng cảnh du lịch sinh thái lễ hội hội chợ...) của nhiều cây bút như Nhất Linh Việt Sinh (Thạch Lam) Lê Ta (Thế Lữ) Thạch Lam Trọng Lang Khái Hưng Thanh Tịnh... Tất cả những trang ghi chép này gĩp phần làm phong phú và tạo nên dịng chảy chung của thể ký Việt Nam tạo tiền đề cho cả một quá trình phát triển tiếp theo.  

 

Nối tiếp thời kỳ  phát triển cực thịnh trong suốt thập kỷ ba mươi các tác phẩm ký Việt Nam từ 1940 đến Cách mạng tháng Tám 1945 cĩ bước tiếp nối và sự chuyển hướng mới rất đáng chú ý. Trước hết các tác giả chủ lực như Trọng Lang Ngơ Tất Tố... vẫn tiếp tục cĩ đĩng gĩp; đồng thời các cây bút mới tiếp tục xuất hiện và khẳng định với tên tuổi những Nguyễn Đình Lạp Thạch Lam Vũ Bằng... Nhìn chung các tác phẩm ký một mặt vẫn tiếp tục khai thác hiện thực đời sống muơn màu muơn vẻ dưới chế độ thực dân nửa phong kiến; mặt khác đã quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề dân tộc từng bước ý thức sâu sắc hơn về tính dân tộc và ý thức về yêu cầu giải phĩng dân tộc đang ngày càng trở nên rõ nét hơn. Theo nhà phê bình Lê Thanh thì những năm 1940-41 là “một đoạn đường quành rõ rệt ít nhất là đoạn đầu của một đường quành” “Từ năm 1939 cuộc thế giới chiến tranh mở đầu. Tiếng súng nổ nhà văn ta đương nhiên miên man trong cuộc sống trụy lạc nhổm dậy trơng thấy cái nguy cơ của sự lười biếng của mình... Họ đứng dậy rũ áo tìm cách đoạn tuyệt với cái quá khứ nặng nề của họ. Bây giờ là thời đại của lịch sử của sự sống cịn của sự chiến đấu. Họ dự bị bắt tay vào việc”(12). Gần đây nhận xét về tình hình văn học thời kỳ này Giáo sư Hồng Như Mai nhấn mạnh: “Những năm đầu của thập niên bốn mươi dẫn đến Cách mạng tháng Tám 1945 chứng kiến một sự chuyển biến chuyển hướng trong tư tưởng nghệ thuật của các nhà văn tiêu biểu. Một sự đổi hướng tích cực... Những năm 1940-1945 là cái gạch nối giữa hai chặng đường văn học là cái đường băng cho văn học dân tộc khởi động chuyển bánh lấy đà cất cánh bay vút lên cao”(13). Đĩ cũng là âm hưởng chung của đời sống tinh thần xã hội đời sống văn hố- văn nghệ và ý thức dân tộc của số đơng các nhà văn: “Họ thấy sứ mệnh mình đối với quốc gia ra sức hơ hào cho việc làm lại xã hội tự cường xây dựng quốc gia. Luồng giĩ phục hưng dân tộc đã thổi mạnh vào tư tưởng xã hội”(14)...  

Xét trên phương diện tác gia và tác phẩm các cây bút ký xuất sắc như Trọng Lang Ngơ Tất Tố tiếp tục cĩ đĩng gĩp mới. Vào thời gian này Trọng Lang cho in các phĩng sự đã in báo trước đây thành sách như Làm tiền (1942) Làm dân (1943) viết tiếp Thầy lang (in báo 1941 in sách 1944) đồng thời với các phĩng sự mới viết về đời sống gia đình như Vợ lẽ nàng hầu (viết 1943 in 1950) Những đứa trẻ (viết 1944-1945 in 1950). Trong khi đĩ nhà văn Ngơ Tất Tố tiếp tục khai thác đề tài tệ nạn chốn hương thơn với tập phĩng sự Việc làng (in báo 1940 in sách 1941)... Ngồi ra ở thời điểm đêm trước của cuộc Cách mạng tháng Tám vẫn xuất hiện thêm một số cây bút cĩ vị trí quan trọng trong làng văn làng báo như Nguyễn Đình Lạp Thạch Lam Lộng Chương Vũ Bằng Nhật Nham Trịnh Như Tấu Mãn Khánh Dương Kỵ Biệt Lam Trần Huy Bá...  

Xem xét trên phương diện thể tài nghệ thuật cĩ thể thấy hình thức tiểu thuyết phĩng sự đã lên ngơi và giữ một vị trí khá đặc biệt. Với các tác phẩm được định danh là “tiểu thuyết phĩng sự” quả đã cĩ sự hỗn dung thể loại hỗn dung phong cách khiến cho một sự phân chia thể loại theo lối khoa học rành mạch trở nên hết sức khĩ khăn. Cĩ thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu được chính các tác giả duy danh là “tiểu thuyết phĩng sự” hoặc “phĩng sự tiểu thuyết” như Lều chõng (Ngơ Tất Tố 1941) Ngoại ơ (Nguyễn Đình Lạp 1941) Hầu thánh (Lộng Chương 1942) Ngõ hẻm (Nguyễn Đình Lạp 1943)... Nĩi riêng với tác phẩm Bút nghiên (Chu Thiên 1942) tuy tác giả đề rõ là tiểu thuyết song Vũ Ngọc Phan đã xác định: “Tập Bút nghiên của ơng tuy đề là tiểu thuyết trơn nhưng cĩ thể coi như một tập ký sự về cái lối đi học thi của ơng cha chúng ta thuở xưa hay đặt nĩ vào loại tiểu thuyết phĩng sự cũng được”(15). Hầu hết tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng như Giơng tố Vỡ đê cũng in rõ dấu ấn chất phĩng sự với những mức độ đậm nhạt khác nhau. Điều này cĩ nghĩa là nhiều tác phẩm in đậm tính chất giao thoa thể loại trong phĩng sự đã cĩ nhiều phần nghệ thuật được nâng cấp gần với tiểu thuyết và trong hình thức tiểu thuyết vẫn in đậm phong cách ghi chép phĩng sự. Những tác phẩm phĩng sự xuất sắc được coi là tương đối thuần nhất về mặt thể loại cĩ thể kể đến Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam 1943) và Cai (Vũ Bằng 1944)... Về mặt nội dung các tập Lều chõng Bút nghiên đều hướng tới đề tài khoa cử thể hiện muơn mặt đời sống học đường dưới thời quân chủ Nho giáo đã một đi khơng trở lại. Hai tập tiểu thuyết phĩng sự Ngoại ơNgõ hẻm thì cùng đề cập đến cuộc sống người dân nghèo thành thị và cùng cĩ một bút pháp thống nhất. Với tập Ngoại ơ Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Như tác giả đã cho in ngồi bìa Ngoại ơ là một tập phĩng sự tiểu thuyết. Nhưng phĩng sự tiểu thuyết là thế nào? Là một tiểu thuyết mà tác giả muốn thuật lại những việc cĩ thực những việc cĩ thể làm đầu đề cho những thiên phĩng sự và chỉ cĩ rất ít tưởng tượng... Ngoại ơ chỉ là một tập tiểu thuyết tả thực một tập tiểu thuyết tả chân vì nĩ cĩ rất nhiều tưởng tượng. Ở lối tả chân nhà tiểu thuyết cĩ thể dùng rất nhiều tưởng tượng miễn là chỉ căn cứ vào sự thực vào những điều mắt thấy tai nghe là đủ”(16). Khi đọc Ngõ hẻm Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng cảm nhận: “Cuốn Ngõ hẻm của ơng Nguyễn Đình Lạp đã phơi ra ánh sáng những mẩu đời vất vả vật lộn những cảnh gia đình vì nghèo túng mà xẩy ra tai nạn nhưng cũng khơng vì nghèo túng mà làm mất cái hạnh phúc gia đình... Chính đọc xong cuốn Ngõ hẻm tơi đã cĩ cảm tưởng ấy mỗi khi qua con đê Kim Liên nhìn dịng nước sơng Tơ và tơi lại nhớ đến những cảnh gia đình đã được mơ tả một cách rành rọt dưới ngịi bút linh động của ơng Nguyễn Đình Lạp... Tơi xin vui lịng giới thiệu thiên tiểu thuyết phĩng sự cĩ giá trị với ai ai là người hằng để tâm đến việc xã hội cứu tế”(17). Như vậy dù luận bình về nội dung hay nghệ thuật thì người đọc đương thời vẫn nhận rõ màu sắc sự thật được tái hiện trong tác phẩm nghĩa là thấy rõ cả yếu tố tiểu thuyết và phương thức ghi chép người thực việc thực của phĩng sự. Cịn lại tập tiểu thuyết phĩng sự Hầu thánh tập trung kể về nạn mê tín dị đoan những trị đồng cốt những kẻ sùng bái mù quáng và cả một bọn lợi dụng lịng tin người đời để lừa lọc kiếm ăn... Nhìn chung các tác phẩm được gọi là “tiểu thuyết phĩng sự” nêu trên đều tiềm tàng đặc điểm “già phĩng sự non tiểu thuyết” nghĩa là đã gia tăng yếu tố tưởng tượng hư cấu song vẫn chưa thốt khỏi sự ràng buộc của các chi tiết đời sống hiện thực người thực việc thực.  

Đặt trong dịng chủ lưu các thể ký thời kỳ đêm trước Cách mạng tháng Tám cịn cĩ những tác phẩm thực sự sáng giá là phĩng sự Cai (Vũ Bằng in báo 1940 in sách 1944) Nợ văn (Lãng Tử Thúc Tề 1941) và tập bút ký Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam 1943). Thực tế tác phẩm Cai cũng cĩ thể gọi là tiểu thuyết phĩng sự hoặc truyện ký mà khơng sai bao nhiêu. Trong tác phẩm này cĩ cả một cốt truyện tình yêu bi hài cĩ cả những trang miêu tả diễn biến tâm lý sinh động về kẻ nghiện cĩ cả những ghi chép chi tiết về nạn thuốc phiện và đan xen thêm cả hình thức ghi chép nhật ký. Trong chiều hướng chung nhất cĩ thể xem đây là thiên phĩng sự đặc sắc phong phú bậc nhất viết về tệ nạn nghiện hút dưới thời thực dân phong kiến. Phĩng sự Nợ văn của Lãng Tử Thúc Tề đi sâu mơ tả đời sống giới văn bút trong muơn mặt đời thường ở đất báo Sài Gịn. Cịn lại Hà Nội băm sáu phố phường là tập bút ký chủ yếu tái hiện cuộc sống con người và quang cảnh phố phường Hà Nội ở những khía cạnh truyền thống văn hố dân tộc vẻ hào hoa thanh lịch với những biển hàng những phố đẹp những hiệu cao lâu - và đặc biệt là cuộc tổng kiểm kê và trình diễn các mĩn quà mang đầy hương vị Hà Nội ngàn năm. Cĩ thể xem đây là áng văn trong sáng đầy thi vị của một tinh thần duy mĩ một tấm lịng tha thiết mến yêu quê hương đất nước gĩp phần làm nên sự phong phú của thể ký đương thời.  

Bên cạnh các tác phẩm tiêu biểu nĩi trên cịn cĩ nhiều trang ghi chép ngắn gọn của nhiều tác giả khắp trong Nam ngồi Bắc chủ  yếu in báo trong đĩ nổi bật nhất là thể tài du ký. Đến lúc này du ký phân nhánh thành nhiều cụm chủ điểm như khảo cứu phong tục đi thăm di tích lịch sử nơi danh lam thắng cảnh du ngoạn bằng đường khơng đường bộ tàu hoả tàu thuỷ. Ở đây cĩ nhiều trang ghi chép khá sâu sắc chi tiết về văn hố học dân tộc học như Tam Lang với Một ngày ở xứ Chàm (Tri tân 1941); Biệt Lam Trần Huy Bá với lữ ký Ban Mê Thuột (Tri tân 1942) Hai tháng ở gị Ĩc Eo hay là câu chuyện đi đào vàng (Tri tân 1944-1945); Nhật Nham Trịnh Như Tấu với Sau tám năm trở lại thăm Laokay Từ Hà Nội đến hồ Ba Bể (Tri tân 1942); Mãn Khánh Dương Kỵ với Indrapura - Đồng Dương Thiên YANA (Tri tân 1943)(18); Thái Hữu Thành với Giống Mọi ở Đồng Nai thượng 15 ngày với Mọi cĩ đuơi Mọi Xà Niên Ngải Mọi ở Đồng Nai thượng (Nam Kỳ tuần báo 1943-1944)... Đồng thời nhiều địa danh lịch sử và danh thắng như Hạ Long Yên Tử Kiếp Bạc Cát Bà Hoa Lư Sầm Sơn Huế Đà Lạt Bà Nà Ngũ Hành Sơn Hà Tiên Phú Quốc... đều đã được miêu tả lại khá sinh động chi tiết. Dù khơng trực diện phản ánh cuộc đấu tranh xã hội đương thời song chính mảng văn du ký cũng gĩp phần nâng cao nhận thức và niềm tự hào dân tộc mở rộng hơn nữa dung lượng hiện thực và tầm bao quát sâu rộng đa diện của thể ký đương thời.  

 

Nhìn lại chặng đường phát triển của thể loại ký Việt Nam từ  đầu thế kỷ đến 1945 chúng ta khơng khỏi ngỡ ngàng trước những bước tiến vượt bậc cả về đội ngũ sáng tác phạm vi đề tài nội dung và nghệ thuật thể hiện. Khác với phong trào Thơ mới và kiểu sáng tác kịch truyện ngắn tiểu thuyết cịn in đậm dấu nét giao lưu tiếp nhận ảnh hưởng văn học phương Tây thì bản thân các thể tài ký lại mang tính nội sinh hết sức rõ nét. Điều này cĩ lý do trước hết bởi các thể tài ký cĩ phương thức thể hiện chủ đạo là ghi chép gần với phong cách thơng tin người thật việc thật của báo chí. Do đĩ các đề tài và nội dung hiện thực phải là con người và sự kiện đang diễn ra ở Việt Nam chứ khĩ cĩ hình thức mơ phỏng tiếp nhận cốt truyện ký ở nước ngồi vào Việt Nam. Sau khoảng một thập kỷ tập dượt phải sang những năm ba mươi thì các thể tài ký mới cĩ bước phát triển vượt bậc. Với tư cách là dịng chủ lưu của thể ký các tác phẩm phĩng sự với trang viết khởi đầu là Tơi kéo xe (1932) đã đĩng một vai trị đặc biệt trong nền văn xuơi trước Cách mạng tháng Tám. Nhìn chung các thể tài văn học ký đã phản ánh đầy dủ mọi khía cạnh bức tranh đời sống xã hội ở một giai đoạn lịch sử phức tạp và đầy biến động. Đĩ cũng đồng thời là con đường tự định hình hồn chỉnh dần các đặc điểm thể loại và xây dựng được nhiều tác phẩm xuất sắc cĩ đĩng gĩp tích cực vào tiến trình phát triển chung của nền văn học hiện đại./  

_____________  

(1) Tham khảo: - Hồng Ngọc Hiến: Ký và tiểu luận (et-xe) trong sách Năm bài giảng về thể loại. Trường Viết văn Nguyễn Du xuất bản H 1992. Tái bản. Nxb. Giáo dục H 1999; tr.5-24.

(2) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại Quyển ba. Nxb. Tân Dân H 1942. Tái bản Tập I. Nxb. Khoa học xã hội H 1989; tr.413.

(3) Nguyễn Khắc Xuyên: Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong 1917-1934. Trung tâm Học liệu - Bộ Văn hố- Giáo dục ấn hành Sài Gịn 1968; tr.33. Tái bản. Nxb. Thuận Hố Huế 2002 tr.34.

- Xin xem Du ký Việt Nam - Nam phong tạp chí (1917-1934) ba tập (Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm giới thiệu). Nxb Trẻ TP Hồ Chí Minh 2007; 1918 trang.

(4) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại Quyển ba. Nxb. Tân Dân H 1943. Tái bản Tập I. Nxb. Khoa học xã hội H 1989; tr.514.

(5) Lê Thị Đức Hạnh: Thể phĩng sự và văn châm biếm của Tam Lang. Tạp chí Văn học số 8-1998; tr.58.

(6) Trương Tửu: Địa vị Vũ Trọng Phụng trong văn học Việt Nam cận đại. Tao đàn số Đặc biệt tháng 12-1939. In lại trong Vũ Trọng Phụng với chúng ta (Trần Hữu Tá sưu tầm biên soạn giới thiệu). Nxb. TP Hồ Chí Minh 1999 tr.144.

(7) Nguyễn Hồnh Khung: Chương XIV - Vũ Trọng Phụng (1912-1939) trong sách Văn học Việt Nam (1900-1945). Tái bản lần thứ ba. Nxb. Giáo dục H 1999; tr.422-450.

(8) (10) (11) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại   Quyển ba. Sđd; tr.559-560 413 415.

(9) Phan Cự Đệ: Chương XVIII - Ngơ Tất Tố (1892-1954) trong sách Văn học Việt Nam (1900-1945). Sđd tr.389-412.

(12) Lê Thanh: Nhìn qua văn học Việt Nam năm 1941. Tạp chí Tri tân số 40 tháng 3-1942. In trong Tạp chí Tri tân (1941-1945) Phê bình văn học (Trịnh Bá Đĩnh - Nguyễn Hữu Sơn sưu tập giới thiệu). Nxb. Hội Nhà văn H 2000; tr.54-55.

(13) Hồng Như Mai: Chặng đường văn học 1940-1945. Tạp chí Văn học số 9-1997; tr.14.

(14) Trịnh Bá Đĩnh - Nguyễn Hữu Sơn: Tạp chí Tri tân và xu thế phục hưng văn hố dân tộc thời kỳ 1941-1945. Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số 9-1998; tr.47-49; In lại trong sách Tạp chí Tri tân (1941-1945) Phê bình văn học. Sđd; tr.7.

(15) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại Quyển IV Tập thượng Nxb. Tân Dân H 1943. Tái bản Tập II. Nxb. Khoa học xã hội H 1989; tr.935.

(16) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại Quyển IV Tập hạ. Nxb. Tân Dân H 1945. Tái bản Tập II. Nxb. Khoa học xã hội H 1989; tr.1008-1009.

(17) Tiên Đàm: Đọc sách Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp. Tạp chí Tri tân (1941-1945) - Phê bình văn học. Sđd; tr.602-603.

(18) Xin xem Tạp chí Tri Tân (1941-1945) - Truyện và ký (Lại Nguyên Ân và Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm). Nxb Hội Nhà văn H 2000; 884 trang.

More...

Vai trò của giáo lý Thiền tông trong sáng tác thơ Thiền Lý - Trần.

By

Vai trò  của giáo lý Thiền tông

 trong sáng tác thơ  Thiền

Lý- Trần 

 Trịnh Thị Minh Hương

Những giáo lý Thiền tông rất gần gũi với đạo lý dân Việt nó khuyên người ta sống lương thiện ngay thẳng chân thật tốt đạo đẹp đời… Vì thế dù yếu chỉ Thiền tông có quan niệm “bất lập văn tự giáo ngoại biệt truyền” thì vô hình chung những giáo lý ấy cũng trở thành một trong những đối tượng chính của một mảng lớn văn học thời Lý-Trần đặc biệt trong thơ thiền.

Tư tưởng Phật giáo nói chung và giáo lý Thiền tông nói riêng là tư  tưởng hướng nội hướng về con người với  đời sống tâm linh tìm cách giải thoát con người ra khỏi cuộc đời đầy khổ ải đắng cay. Thiền tông rất chú trọng cái tâm tâm yên lặng lắng đọng. Và để đạt đến chân như niết bàn đạt đến Phật tính trong phương pháp tu hành Thiền tông đề cao trực giác trực cảm- xem đây là một trong những con đường chủ đạo để đốn ngộ chân lý đồng thời cũng luôn đặt ra vấn đề bản thể và giải thoát.      

  1. Kiểu tư duy Thiền học trong sáng tác

Giáo lý Thiền tông rất  độc đáo nó không muốn người học va vào ngôn ngữ  bên ngoài cũng không rơi vào tâm suy lự bên trong. Trực giác quan trọng hơn logic sự đốn ngộ bên trong quan trọng hơn những hiểu biết thu nhận từ người khác. Trực giác là năng lực nắm bắt trực tiếp chân lý không cần lập luận logic trước. Tư duy Phật giáo Thiền tông khai thác tận cùng các yếu tố thuộc về tâm chứ không đơn thuần chỉ là sự tìm hiểu để khai thác về mặt tâm lý xã hội. Trực giác là sự kết hợp đặc biệt thuận lợi các liên tưởng ấn tượng để tạo ra phát hiện tức thời như ánh chớp và đạt được sự uyên thâm.

Trong tư duy nghệ thuật trực giác đóng vai trò rất quan trọng để nhận thức cái thẩm mỹ trong đời sống. Trực giác trong văn học là những phán đoán cảm tính trực tiếp tức thời không có suy lí và không thể chứng minh nhưng là một hoạt động của trí tuệ (1) Trực giác là yếu tố thường tại của tư duy nghệ thuật. Bên cạnh trực giác tư duy nghệ thuật cũng vận dụng thêm các yếu tố khác như cảm giác xúc giác tri giác và cả nhận thức lí tính bởi tư duy nghệ thuật là kiểu tư duy mang tính tổng hợp nhưng trực giác vẫn là yếu tố hàng đầu của người nghệ sĩ.

Trong tư duy Phật giáo Thiền tông nét chủ đạo nằm ở kích thước của sự không lời (sự vô ngôn). Tư duy ấy chứa đựng bên trong sức sống mãnh liệt thu phục lòng người từ chiều sâu của sự cảm thụ và tâm thức. Văn chương cũng đi vào lòng người bằng con đường ấy. Đây là sự gặp gỡ giữa tâm thức Thiền và tâm thức văn chương. Không có kiểu tư duy này người nghệ sĩ khó lòng nắm bắt được cái thần cái hồn của đối tượng. Hình ảnh cành mai trong thơ Mãn Giác đã đạt đến tinh thần tuyệt diệu đó!

  •  
    •  

        Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

  •  
    •  

        Đình tiền tạc dạ nhất chi mai (2)           

(Cáo tật thị chúng)

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

  •  
    •  

        Đêm qua xuân trước một nhành mai.      

(Ngô Tất Tố dịch)

Câu thơ chuyển tải quy luật luân hồi tuần hoàn của tự nhiên cuộc đời. Thiền sư đã đúc kết được rằng sống chết là một qui luật tất yếu nhưng  nhờ giác ngộ chân lý mà nhà sư vượt khỏi vòng sinh tử luân hồi đạt đến chân nhân. Trước sân thì sẽ có một cây mai hoặc mấy cành mai thế nhưng vẫn chỉ là một nhành. “Nhất chi mai” là cái gì đó đã vượt ra ngoài giới hạn của cân đo đong đếm. Cách nhìn của người đời theo hiện tượng nên sự quan tâm chỉ giới hạn trong một chu kì của một vòng đời hiện tượng. Người đời muốn níu giữ một mùa xuân để còn mãi một mùa hoa. Nhưng giả sử mùa xuân dừng lại thì mọi vật trong mùa xuân đó đều dừng lại không phát triển. Như vậy muôn vàn mùa hoa kế tiếp sẽ không phát triển được nữa. Cách nhìn theo hiện tượng này chỉ thấy được cái biểu hiện bên ngoài mà không thấy được bản chất quy luật tồn tại và vận động bên trong hiện tượng và sự vật ấy. Theo cách nhìn này thì mọi sự vật hiện tượng đều sẽ kết thúc (kết thúc trong hiện tại lẫn tương lai). Vì thế con người sẽ không tránh khỏi đeo mang những nỗi buồn sầu thiên cổ… Với cách nhìn của nhà sư đã tu hành đốn ngộ Mãn Giác nhận ra được mối quan hệ tiếp nối thay thế nhau giữa các hiện tượng. Theo quan niệm của đạo Phật mọi sự vật đều có quan hệ nhân quả hoa tàn sẽ kết quả quả chín rụng sẽ nảy mầm mầm phát triển thành cây cây lớn lên sẽ lại đơm hoa kết quả. Như vậy trong sự tàn lụi của hiện tượng trước sẽ nảy sinh sự sống cho hiện tượng sau. Và Thiền sư Mãn Giác đã nhìn các sự vật hiện tượng theo bản chất mang tính biện chứng nhận ra sự sống tiềm ẩn vĩnh tồn và liên tục phát triển trong lòng mọi vật nên sẽ đón nhận niềm vui bất diệt và sự sống vĩnh hằng. Bởi vì trong qui luật vận động và thay thế con người cũng không ngoại lệ vì thế Thiền sư nhắc nhở mọi người: đừng tưởng xuân tàn thì hoa sẽ rụng hết mà hãy xem kìa đêm qua một nhành mai đã nở trước sân. Lời nhắn nhủ nhẹ nhàng ấy thể hiện một cái nhìn “đốn ngộ” một sự minh triết về bản chất sự vật của một trí tuệ siêu việt. Đó là lúc thi sĩ Thiền đạt được giây phút thăng hoa tinh thần trong trẻo và hồn nhiên nhất đó là lúc giải thoát khỏi mọi ràng buộc của nghiệp chướng giây phút viên mãn tột độ của tâm thức Thiền mà người tu hành gọi là trạng thái “nhất tâm” (eka-gia).

Trong yếu chỉ Thiền tông có một phương pháp dùng để đốn ngộ đệ tử là quát tháo. Sự quát tháo được sử dụng khi thầy nhận thấy Phật tâm của đệ tử đã chín mùi đủ khả năng giác ngộ. Với  ý nghĩa này phải chăng tiếng kêu vang của Không Lộ Thiền Sư là một khát vọng phi thường giác ngộ vũ trụ để cả cõi thái hư tràn ngập không khí Thiền để khắp nơi đều nhuốm màu Thiền?   

  •  
    •  

        Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh

  •  
    •  

        Trường khướu nhất thanh hàn thái hư.

(Ngôn hoài)

  •  
    •  

        Có  khi xông thẳng lên đầu núi

  •  
    •  

        Một tiếng kêu vang lạnh cả  trời.

(Kiều Thu Hoạch dịch)

Cái “tiếng kêu vang”  là biểu hiện sự sống và cho thấy sự  đối diện giữa cá thể (con người) và bản thể (vũ trụ).  Hơi thở của cá thể đi vào trong vũ trụ mà cảm nhận được vũ trụ lạnh đi đó là cảm nhận trong trạng thái “đốn ngộ” cảm nhận được sự tinh vi nhất của vũ trụ bao la. Từ đó nhà thơ nhận ra sự sống luôn luôn chuyển hoá thay đổi hình dạng mà trở nên vĩnh tồn.

Khi các Thiền sư đã nắm rõ được quy luật chuyển hoá của các hiện tượng họ đã sống có ý thức với quy luật đó khiến lòng trở nên thanh thản vững vàng không còn điều gì sầu muộn nữa. Câu thơ giải thích sự đốn ngộ trong tu Thiền bằng những hình ảnh dung dị mà kì vĩ hợp lý và dễ hiểu như hơi thở hoà vào khí vũ trụ mà trường tồn. Như vậy cái tiếng kêu sang sảng lạnh cả thái hư là tiếng kêu sảng khoái của một tâm hồn khoáng đạt là phút giây dùng trực giác để con người hoà nhập vào đại ngã của vũ trụ. Đặng Thai Mai gọi tiếng kêu đó là “cảm hứng đạo học”. Có thể nói rằng phép tu hành trong Thiền tông là một quá trình lao động trí tuệ một cách nghiêm túc tích tụ đủ “lượng” để đến một thời điểm “lượng” kia biến đổi thành “chất” nhà tu hành đạt được sự đốn ngộ hiểu ra điều vi diệu của đạo Phật bằng phút giây trực giác trực cảm. Con người có sống với đạo hành đạo trọn đời chiêm nghiệm đạo thì mới có thể trực cảm đạo là gì mới có sự quân bình giữa tâm và trí thấy được bản thể của chân như.

Bằng lối suy nghĩ khoáng đạt và phương pháp “dĩ tâm truyền tâm”   “trực chỉ nhân tâm” mà các Thiền sư Lý- Trần có sự quân bình giữa tâm và trí thân ở cuộc đời mà tâm hướng về đạo thanh thản an nhiên tự tại. Làm vua mà có thể lìa bỏ ngai vàng dễ dàng như trút bỏ chiếc giày rách (Trần Thái Tông) có thể coi ngôi cao lộc cả là của chung anh em thân tộc (Trần Thánh Tông) dám tin dùng tuyệt đối con của kẻ thù từng thù nghịch mình (Trần Nhân Tông) là Phật tử nhưng không theo gót mòn của Như Lai (Thiền sư Quảng Nghiêm) …

Tóm lại Thiền tông lấy tâm làm căn nguyên cội nguồn cho sự tu hành và mục tiêu của sự giải thoát là chứng ngộ. Để đạt được tâm trống không Thiền sư phải chiêm nghiệm lược bỏ cái nhìn nhị nguyên phát hiện quy luật chuyển hoá vận hành của vũ trụ cuộc đời con người. Trong văn chương nghệ thuật trực giác cũng là một yếu tố quan trọng. Hạt giống tâm thiền đã gặp được mảnh đất màu mỡ phù hợp nên đã phát triển tốt tươi. Kiểu tư duy Thiền học đã chi phối mạnh trong sáng tác văn học thời Lý- Trần đặc biệt là thơ thiền.           
 

  2 Cảm hứng về bản thể luận

Theo Tự điển Phật học bản thể là căn bản tự thể của các pháp; mà pháp là từ chỉ chung hết thảy mọi sự vật hiện tượng dù là to nhỏ hữu hình vô hình chân thật hư vọng sự vật cũng là vật đạo lý cũng là vật tất cả đều là pháp cả. Kinh Hoa Nghiêm viết rằng: Thế giới bản thể gọi là lý pháp giới thế giới hiện tượng gọi là sự pháp giới”. Đây chính là tinh thần “Nhất đa tương dung lý sự vô ngại tương nhập tương tức” (một và nhiều dung hợp nhau nguyên lý và sự vật cũng như vạn sự vạn vật không có gì làm trở ngại nhau cái này có thể nhập vào cái kia cái kia cũng tức là cái này).

Như vậy cái chính bản thân sự vật vốn có là cái bản chất tối sơ nguyên thủy khởi nguồn của các pháp mà pháp bao gồm toàn bộ thế giới sự vật hiện tượng và con người; toàn bộ thế giới thực tướng và giả tướng hữu hình và vô hình. Bản thể ấy là bản thể chân như và các dạng thức tồn tại biểu hiện ra muôn màu muôn vẻ của các pháp.

Dù dùng nhiều thuật ngữ  khác nhau nhưng các Thiền phái thời Lý- Trần đều thống nhất với nhau một điểm: bản thể và thế giới hiện tượng không tách rời nhau chúng như nước và sóng sóng từ nước mà ra rồi trở về với nước sóng cũng là nước trên bề mặt thì nước cũng là sóng. Bản thể biến thành hiện tượng vạn hữu cũng như nước biến thành sóng. Bản thể không thể nhìn thấy không đến không đi không hình không tướng không bóng không sắc… nhưng có ở khắp mọi nơi trong mỗi con người.

Bản thể cũng chính là  chân tâm vì thế nó nằm trong thế giới trần tục nhưng người thường không biết lại cứ  tìm đâu đâu. Vì thế trong bài kệ đáp lời sư Đạo Hạnh Kiều Trí Huyền cho rằng:

  •  

      Hà  sa cảnh thị bồ đề  đạo

  •  

      Nghĩ  hướng bồ đề cách vạn tầm

(Đáp Từ Đạo Hạnh chân tâm chi vấn)

  •  

      Cát sông là cõi bồ đề  đó

  •  

      Mà  tưởng còn xa mấy dăm nghìn.

(Ngô Tất Tố dịch)

Trong sự hỗn mang của bụi  đời bản thể tồn tại; trong từng hạt cát bé nhỏ dưới chân bản thể hiện hữu. Bản thể không nằm ở một vương quốc mây mù trừu tượng nào không là một cái gì cao xa to lớn. Người có tâm Thiền sẽ thấy ra điều đó còn người có tâm tục lại cứ tưởng bồ đề ở xa xôi mấy ngàn dặm. Thật ra tâm Thiền khi đã được giác ngộ thì bản thể thần diệu ấy vốn là hư vô ngày ngày vẫn biểu hiện phơi bày. Nó như làn gió ôn hòa thổi dậy khắp thế giới sa bà thế giới hiện tượng (ý thơ của Thiền sư Chân Không).

Bản thể tồn tại khắp mọi nơi nên cũng sẽ tồn tại trong mỗi con người. Chẳng cần tìm Phật ở đâu xa Phật ở ngay trong tâm mình trong lòng mình nên bản thể còn được mô tả một cách bóng bẩy hình ảnh như hòn minh châu tồn tại trong mỗi con người nhưng do vô minh tham sân si mà con người không biết điều này cũng giống như lão nhà giàu có con ngựa quý hiếm mà không biết lại đi bộ. Ý tưởng này đã được Từ Đạo Hạnh chuyển tải trong bài thơ:

  •  

      Nhật nguyệt tại nham đầu

  •  

      Nhân nhân tận thất châu

  •  

      Phú  nhân hữu câu tử

  •  

      Bộ  hành bất kị câu.

(Thất châu)

  •  

      Nhật nguyệt tại non đầu

  •  

      Người người mất ngọc châu

  •  

      Kẻ  giàu có ngựa tốt

  •  

      Chẳng chịu dùng ngựa đâu.     

(Ngô Tất Tố dịch)

Trong cuộc sống hàng ngày mỗi người phải vật lộn để kiếm sống mải mê  bon chen trong cuộc đời vì những sắc màu phù  phiếm của nhân gian mà quên đi cái quý nhất của đời mình. Hạt ngọc châu đại diện cho Phật tính trong lương tâm con người bị những lớp bụi “vô minh” che lấp. Ngày qua ngày thời gian cứ trôi và nhịp sống cứ chảy những lớp bụi vô minh càng được phủ dày. Hình ảnh ẩn dụ “lão nhà giàu có con ngựa quý lại đi bộ” vừa buồn cười vừa đáng thương cho người trần tục bị “vô minh” và “tam độc” vây hãm. Muốn thoát khỏi “vô minh” để trực nhận bản thể phải hướng vào trong chứ không thể hướng ra ngoài mỗi người phải tự quay về thắp lên ngọn đuốc của chính mình. Với lí do đó Thiền tông chủ trương “phi hữu phi không diệc hữu diệc không” (chẳng có chẳng không vừa có vừa không). Người tham Thiền phải thấy được trong hữu trong sắckhông trong hiện tượng có bản chất. Thấy được như thế sẽ đạt được cái tâm không phân biệt tâm bình đẳng. Lúc này chúng sinh và Phật đều như nhau “Phật và chúng sinh vốn cùng một bộ mặt lông mày ngang lỗ mũi dọc mà thôi” (Ý thơ Tuệ Trung).  Trong kinh Kim Cương cũng nói rằng: nếu lấy sắc tìm ta lấy âm thanh kiếm ta thì đó là người đi theo con đường tà đạo không thể thấy được Như Lai (Nhược dĩ sắc kiến ngã dĩ âm thanh cầu ngã thị nhân hành tà đạo bất năng kiến Như Lai). Phật tính có trong mỗi chúng sinh phật tại tâm-  “Bụt ở trong nhà chẳng tìm đâu xa”. Trần Nhân Tông khuyên chớ chạy hỏi Đông Tây Nam Bắc mà hãy nhìn lại tự tâm

  •  

      Tam thiên pháp môn quy phương thốn

  •  

      Hà  sa diệu dụng tại tâm nguyên

  •  

      Sở  vị giới môn định môn tuệ  môn

  •  

      Nhữ  vô phiếm thiếu ứng phản tự  tư.

(Hồi tâm)

  •  

      Ba ngàn pháp môn đều ở trong gang tấc

  •  

      Hằng hà  diệu dụng có sẵn ở  nguồn tâm

  •  

      Nếu giới môn định môn tuệ môn các vị  đã có đủ rồi

  •  

      Thì  hãy nhìn lại tự tâm.

Quan điểm “hồi tâm”  này của Phật giáo còn chỉ ra rằng: cái tâm của mỗi chúng sinh có hai đường: một là quay về gia hương trở về nhà (bản thể bản lai diện mục) từ đó vào niết bàn; hai là cứ theo đà vô minh ham muốn khát vọng tham- sân- si để đi vào địa ngục.

Trở lên đã nói cái tâm là Phật nhưng không phải cái tâm vô minh mà  là cái tâm đã giác ngộ. Đối với những người có tâm giác ngộ thì chẳng còn tính với pháp Phật với tâm. Đạt đến quả vị Phật sẽ không đến vị Phật nào cả bởi vì Phật cũng chỉ là danh hiệu. Đạt đến cái tâm không tâm tức là tâm vô tâm. Cho nên Phật hay pháp tính cũng chỉ là phương tiện vấn đề là chứng ngộ. Đây là tư tưởng chung của Phật giáo cũng như tư tưởng chủ đạo của Thiền tông thời Lý- Trần. Nhờ tư tưởng này mà thời Lý- Trần phát triển rực rỡ ở mọi phương diện dù nền chính trị có sự tham gia của tôn giáo.

Vấn đề thứ hai trong bản thể luận là thế giới hiện tượng nó được các Thiền sư thể hiện từ khởi điểm sắc- không đến vạn vật nhất thể nhận thức thực tướng và giả tướng để đạt đến chân như và niết bàn. Họ xem thế giới hiện thực khách quan mà con người đang sống là giả tướng. Cái mà con người trông thấy dù đang hiện hữu dù có thực chẳng qua là vọng kiến sinh ra. Chúng hiện hữu đó nhưng không có thật. Vạn vật vạn sự kể cả con người đều là vô thường. Nhà sư Vạn Hạnh đã ví đời mình như ánh chớp như cảnh tươi héo của cây cối như cuộc đời thịnh suy như giọt sương mai trên đầu ngọn cỏ:

  •  
    •  

        Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

  •  
    •  

        Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

  •  
    •  

        Nhậm vận thịnh suy vô bố  uý

  •  
    •  

        Thịnh suy như lộ thảo  đầu phô.

(Thị đệ tử)

  •  
    •  

        Thân như bóng chớp có rồi không

  •  
    •  

        Cây cối xuân tươi thu não nùng

  •  
    •  

        Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ  hãi

  •  
    •  

        Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.

(Ngô  Tất Tố dịch)

Thiền sư chỉ coi cái thân là ánh chớp thì thịnh suy bám vào cái thân  ấy càng trở nên bé nhỏ đến vô nghĩa. Thịnh suy được nhà sư ví như hạt sương trên đầu ngọn cỏ. Hạt sương buổi sớm mai trên  đầu ngọn cỏ long lanh rất đẹp nhưng khi mặt trời rạng rỡ là lập tức tan. Khi thịnh suy còn ngự trị trong lòng chúng sinh thì nước mắt chúng sinh tràn đầy biển cả. Vì thịnh suy là căn nguyên của mọi sầu tủi khổ đau của kiếp người. Nếu người học đạo nhận thức được quy luật sinh hóa vô thường của vạn pháp thì sẽ đạt tinh thần “vô uý” “nhậm vận” và “lý sự vô ngại”.

Nguồn gốc của những rường mối mọi cái trong thế giới hiện tượng này là  do phân biệt kén chọn tạo ra cái nhìn nhị kiến. Nếu từ bỏ nhị kiến tức không còn đối đãi phải trái trên dưới trước sau tốt xấu lành dữ thiện ác… thì làm gì còn phân biệt kén chọn nữa. Nhưng suy cho cùng thì nhị kiến vọng niệm cũng chính là vô minh. Hay nói khác hơn đây là tư tưởng xem sự vật là vô thường của Phật giáo “cát bụi rồi sẽ trở về cùng cát bụi”. Mọi sự vật hiện tượng đều biến đổi sự biến đổi vô cùng nhanh chóng. Vì thế Giác Hải Thiền sư xem sống hay chết là quy luật tuần hoàn của tự nhiên như xuân đến hoa bướm đua nhau xuất hiện xuân qua tất cả đều mất vì đó chỉ là giả tướng huyễn ảo con người đừng bận tâm:

  •  
    •  

        Xuân lai hoa điệp thiện tri thì

  •  
    •  

        Hoa điệp ưng tu cộng ứng kì.

  •  
    •  

        Hoa điệp bản lai giai thị huyễn

  •  
    •  

        Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.

(Hoa điệp)

  •  
    •  

        Xuân sang hoa bướm khéo quen thì

  •  
    •  

        Bướm lượn hoa cười vẫn đúng kì

  •  
    •  

        Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo

  •  
    •  

        Thây hoa mặc bướm để lòng chi.

(Ngô Tất Tố dịch)

Vòng luân chuyển của trời  đất cứ liên tục vận hành. Mỗi một sự vật hiện tượng đều đảm nhận một mắc khâu vai trò  trong sự vận hành chung của vũ trụ. Nó vận hành theo quy luật của nó không phụ thuộc vào ý muốn suy nghĩ và sự phán đoán của con người. Và khi Thiền sư nhận thức được điều này sẽ có thái độ ung dung không hoảng hốt không lo âu thậm chí cả khi thói đời thay đổi giống như đám mây trời.

Thế giới hiện tượng là  kết quả tạo tác của dòng nhận thức nên vạn pháp đan bện vào nhau rắc rối như sắn bìm bụi cỏ chúng sinh sinh hoá hoá dời đổi vô thường. Thế giới hiện tượng có đấy nhưng không thật giống như giấc chiêm bao vừa hư vừa thực. Hư ở chỗ nó không thật không thể xác định được tính hiện thực của nó. Còn thực ở chỗ nó đã tồn tại dù chỉ như một giấc mơ với tất cả hình danh sắc tướng. Thế giới hiện tượng trói buộc con người trong vòng luẩn quẩn của nhận thức chồng chất thêm những mê lầm buộc con người phải lao đao điên đảo chạy tìm Phật tổ ở khắp nơi. Thiền tông không bác bỏ tính hiện thực của thế giới hiện tượng song cũng không cho rằng nó có tính chân thực bền vững bất biến. Thế giới hiện thực mù mờ ảo ảo nhưng người vô minh cứ tưởng là thực. Họ giống như chú bướm si nhìn hạt móc tưởng mật hoa giống con chim khát tưởng ánh sáng ban đêm là nước:

  •  
    •  

        Cam lộ lưu phương sĩ điệp tỉnh

  •  
    •  

        Dạ  quan lưu thủy khát cầm sầu.

(Tảo mai I- Trần Nhân Tông)

  •  
    •  

        Đêm ngỡ nước trong chim cháy cổ

  •  
    •  

        Sương lùng hương ngát bướm tan mơ.

(Trần Lê Văn dịch)

Thế giới tự nhiên khi chưa hiểu rõ bản chất của nó còn kẹt trong quan niệm “ Có –Không” thì con người vẫn bị lôi cuốn vào thế giới hiện tượng đó. Nhưng đã đạt đến cái tâm tĩnh lặng nắm bắt được cái bản chất của vạn pháp con người trở nên ung dung tự tại chẳng cần “có” và “không”. Cuối cùng tự tính hay pháp tâm hay phật phàm hay thánh đồng nhất hay khác biệt do chính cái tâm con người quyết  định. Tâm tĩnh lặng thì tất cả là một tự nhiên như nhiên còn tâm sai biệt thì ngay lập tức xuất hiện thế giới hiện tượng sai biệt. Khi diệt được vô minh thì thiên sai vạn biệt biến mất. Chỉ cần quay về tâm để mọi cách biệt được san bằng thì lúc ấy cảnh giới niết bàn cũng chính là nơi mình đang sống.

Như vậy vấn đề bản thể luận là một trong những vấn đề trọng tâm của triết  học Thiền tông thời Lí –Trần. Các Thiền sư đã chuyển tải vấn đề bản thể vào thơ thiền để thể hiện niềm say mê đạo giác ngộ chân lý và minh giải cho đồ đệ. Thái độ chung của các Thiền sư thời kỳ này là một thái độ sáng suốt can đảm chấp nhận cái hiện có nhưng không xem nó là vĩnh hằng: từ thế giới hiện tượng hữu hình Thiền sư thâm nhập và hiểu được thế giới bản chất vô hình. Đây là một vấn đề rất cao siêu sâu rộng và trừu tượng phức tạp tưởng như khó lý giải cho rành mạch lại được các nhà sư diễn đạt bằng những hình ảnh ẩn dụ lôi cuốn để làm sáng tỏ và bừng vỡ ý nghĩa cốt lõi giữa bản chất và hiện tượng. Bản chất là cái tồn tại vĩnh cữu ở dạng tiềm ẩn là “chân như” là “không”; còn hiện tượng là cái tồn tại có giới hạn hữu hình là “giả tướng” là “sắc”. Dù hiện tượng có đa dạng nhưng bản chất chỉ là một mà thôi.   

      3. Cảm hứng về giải thoát luận

Đồng thời với việc xác định kiến giải những quan niệm về bản thể các Thiền sư thi sĩ còn đề cập tới vấn đề tu chứng và giải thoát. Trong một chừng mực nào đó có thể xem đây là mối quan tâm chủ yếu bởi lẽ dù có đi sâu biện giải các ý niệm khái quát cao siêu trừu tượng về bản thể thì rốt cuộc họ vẫn phải trở về với cuộc đời thực đối diện với nhiệm vụ thực hành tôn giáo. Con đường tu chứng và giải thoát đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho Phật giáo Thiền tông khiến nó trở nên phổ cập gần gũi đời thường và có một sức sống lâu bền.

Theo Từ điển Phật học Giải thoát là lìa bỏ mọi trói buộc phiền não hữu lậu để thoát ra khỏi khổ quả của tam giới đạt đến chỗ tự tại chân như giác ngộ. Nói cách khác đó là con đường từ bỏ cái ngu tối mê muội lầm lạc của thế tục để vươn tới giác ngộ về cõi vĩnh hằng.

Trên con đường tu chứng để tìm đến giải thoát các Thiền sư phải hướng nội đạt tới giải thoát nội tâm. Theo quan niệm Phật giáo “tâm” vừa là nguồn gốc tạo tác vừa là chủ thể tiếp nhận tri giác về thế giới. Vì thế Thiền sư Thường Chiếu trong giới hạn cụ thể đã xác định mối liên hệ giữa thân và tâm diễn đạt khả năng huyền diệu và bất định của “tâm” với tư cách là một thực thể:

  •  
    •  

        Tại thế vi nhân thân

  •  
    •  

        Tâm vi Như Lai tạng

  •  
    •  

        Chiếu diệu thả vô phương.

  •  
    •  

        Tầm chi cánh tuyệt khoáng.

(Tâm)

  •  
    •  

        Thân chiếc bóng trên trời

  •  
    •  

        Tâm kho báu Như Lai

  •  
    •  

        Không phương nào không sáng

  •  
    •  

        Tìm kiếm bặt tăm hơi.

(Huệ Chi dịch)

Chính tinh thần hướng nội tự suy nghiệm tự thanh lọc nên Thiền sư dễ dàng tự mình giác ngộ và giác ngộ cho người. Nhà sư đã khuyên mọi người tìm về bản thân mình không truy cầu sắc không ở bên ngoài thiên giới sẽ trở nên mệt mỏi. Lấy điểm xuất phát từ chữ “tâm” các Thiền sư tập trung phác họa những nẻo tu chứng và giải thoát cho cái tâm đạt đến đốn ngộ ngộ đạo vô vi nhậm vận. Chính vì khởi phát từ chữ tâm nên các Thiền sư có khi đồng nhất tâm với trí huệ (cái tâm đã khai minh).

Và Trần Nhân Tông đã hiểu một cách rất sâu sắc tính chất vô thường ngắn ngủi của cuộc sống con người:

  •  
    •  

        Thân như hô hấp tỵ  trung khí

  •  
    •  

        Thế  tự phong hành lĩnh ngoại vân.

  •  
    •  

        Đỗ uyên đề đoạn nguyệt như trú

  •  
    •  

        Bất thị tầm thường không quá  xuân

(Thị tật)

Thân như hơi thở trong mũi khi hô hấp

  •  
    •  

        Cuộc  đời như đám mây bay theo gío ngoài núi xa.

  •  
    •  

        Chim quyên kêu đã bao ngày tháng

  •  
    •  

        Chớ  để luống qua mùa xuân một cách tầm thường.

Mạng sống con người mong manh như hơi thở không có bền không có thật. Cuộc đời hay thế giới này không bền lâu vững chắc giống như gió thổi mây bay trên đỉnh núi xa kia. Những đám mây trôi không dừng lại một chỗ mây theo chiều gió cứ trôi trôi mãi. Đây cũng là sự diễn tả cái vô thường trôi chảy không dừng. Con người không thể tránh khỏi sinh tử và nhân quả. Không thể tìm ra Niết bàn khi còn quẩn quanh trong sinh tử và nhân quả mà phải ở ngay trong nó để thấu suốt bản tính để nhận ra sinh tử là không sinh không tử. Lúc ấy tự nhiên con người sẽ được giải thoát.

Giới luật đối với các Thiền sư được thể hiện ở việc không tham dục không tham danh lợi tin ở nghiệp lực không chấp. Thiền sư Trí Thiền khuyên mọi người:

  •  
    •  

        Tham dục truất trừ thiên lý  ngoại

  •  
    •  

        Hi di chi lí nhật bao dung.

(Thoát tục)

  •  
    •  

        Đuổi ngoài ngàn dặm niềm ham muốn

  •  
    •  

        Để lẽ huyền vi chứa ở trong.

(Ngô Tất Tố dịch)

Cái vướng mắc nhất đối với người tu hành là tham dục (ham muốn) tham lam của cải vật chất tiền tài danh vọng. Cái đó làm lu mờ tâm tính con người và ngăn cản con người đi đến giác ngộ. Bởi vậy việc đầu tiên khi bước vào con đường tu hành là phải diệt trừ tham dục phải truất trừ ham muốn. Có như vậy thì lẽ huyền vi mới lộ ra Phật tính mới xuất hiện con người đến được Niết bàn.

Bên cạnh đó thuyết luân hồi nghiệp báo cũng được các Thiền sư đề cập đến. Vì có nghiệp báo nên hành giả khuyên mọi người sống có đức cấy phúc gieo duyên. Thiền sư Vạn Hạnh đã thể hiện điều đó trong bài thơ đưa cho kẻ muốn hại mình:

  •  
    •  

        Thổ  mộc tương sinh cấn cạnh câm (kim)

  •  
    •  

        Vi hà mưu ngã uấn linh khâm

  •  
    •  

        Đương thời ngũ khẩu tu tâm tuyệt

  •  
    •  

        Chân trí vi lai bất hận tâm

(Ký Đỗ Ngôn)

  •  
    •  

        Thổ  mộc sinh ra cấn cạnh câm (kim)

  •  
    •  

        Thù  ta toan định sẵn mưu ngầm

  •  
    •  

        Tăng này biết chuyện lòng buồn dứt

  •  
    •  

        Cả  đến mai sau chẳng oán thầm.

(Huệ Chi dịch)

Người tu hành không oán giận không câu chấp chỉ nên sống lặng lẽ thanh tịnh cho nên muốn đi đến giải thoát muốn xuất hiện trí tuệ bát nhã thì phải thanh lọc thân tâm phải giữ giới nghiêm ngặt phải thực hành nếp sống đạo đức mà Phật đã chỉ ra. Giới là phương tiện để đi đến tuệ. Không thể có tuệ mà không có giới. Khi đã có tuệ thì không còn chấp vào giới làm gì. Và như thế Niết bàn sẽ hiện ra rất gần.

Với chủ trương diệt dục tất yếu con người phải ý thức được nguồn gốc của mọi tham dục là cái sắc thân ô  uế của mình.

  •  
    •  

              Như  tư ngoại sức

  •  
    •  

              Chung thị uế căn

(Khoá hư lục –  Trần Thái Tông)

Trang sức bề ngoài như  vậy

  •  
    •  
      •  

          Vẫn là cái gốc nhớp nhơ.

Các Thiền sư Lí –Trần dù phủ nhận giá trị thân xác nhưng không phủ nhận giá trị đời sống mà họ  luôn phấn đấu để đạt đến sự quân  bình: cố gắng diệt trừ tham dục để đạt được sự tự do cho tâm hồn giữ được tinh thần hiện thực để chu toàn bổn phận ở đời. Đó là chủ trương “Phật pháp bất ly thế gian pháp” mà sau này phát triển lên “giải thoát bất ly thế gian” “ hòa quang

More...

Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện ở Nhật Bản.

By

TRUYỆN KIỀU VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN   


Ở NHẬT BẢN
  

 PGS.TS. Đoàn Lê Giang 
 
Trường Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn –  ĐHQG Tp.HCM

 

 Bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Nhật lần đầu tiên nói trên có  tên  là Kim Vân Kiều do NXB. Đông Bảo xuất bản năm 1942 (Chiêu Hòa thứ 17). Bản dịch Truyện Kiều lần thứ hai ra tiếng Nhật là bản dịch công phu hơn đó là bản Kim Vân Kiều do Takeuchi Yonosuke (Ta-ke-u-chi Yô-nô-su-ke) 内  dịch NXB. Kodansha xuất bản 1975. Trước bản dịch Truyện Kiều của Takeuchi hơn 200 năm thì truyện về nàng Kiều đã được dịch ra tiếng Nhật. Tất nhiên bằng con đường khác: con đường từ Trung Hoa từ bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân 清心才人.  

 

CÁC BẢN DỊCH TRUYỆN KIỀU Ở NHẬT BẢN (1)   

Nhà thơ Nguyễn Giang con trai của Nguyễn Văn Vĩnh đưa cho nhà văn Komatsu Kiyoshi (Kô-ma-tsu Ki-yô-shi) tập truyện Kiều bằng tiếng Pháp.  Từ tập sách này Komatsu đã dịch ra tiếng Nhật. Đó là bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Nhật lần đầu tiên.  Komatsu viết :“ Muốn biết rõ tâm hồn của người An Nam thì phải đọc cuốn sách này”(2)    

Bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Nhật lần đầu tiên nói trên có  tên  là Kim Vân Kiều do NXB. Đông Bảo xuất bản năm 1942 (Chiêu Hòa thứ 17). Komatsu từng du học ở Pháp về Nhật ông trở thành nhà nghiên cứu văn học Pháp ông có dịch André Gide André Malraux ra tiếng Nhật. Theo nhà nghiên cứu Vĩnh Sính trong thời gian học ở Pháp Komatsu có đến nghe Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết về vấn đề thuộc địa. Khi Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết  xong thấy có một người da vàng ngồi ở dưới - người ấy là Komatsu Nguyễn Ái Quốc xuống trò chuyện vận động Komatsu tham gia cuộc đấu tranh cho các dân tộc thuộc địa. Tiếc rằng Komatsu không có chí làm cách mạng nên đã từ chối. Nhưng dẫu sao sự việc ấy cũng để lại cho Komatsu một ấn tượng hết sức sâu sắc về một người Việt Nam yêu nước (Tạp chí Xưa và Nay). Mùa thu 1941 Komatsu đến Hà Nội gặp lại Nguyễn Giang bạn cũ ở bên Pháp nhờ đó mà có được bản dịch Truyện Kiều bằng tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh thân phụ nhà thơ Nguyễn Giang. Chúng ta biết rằng Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp từ rất sớm.  Trước khi  in thành sách năm 1942-1943 bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh đã được công bố đến 3 lần:

-Lần thứ nhất trên Notre journal Notre revue từ 1908 đến 1910

-Lần thứ hai trên Đông Dương tạp chí từ 1913 đến 1917

-Lần thứ ba trên L’Annam nouveau năm 1933    

Từ bản dịch Truyện Kiều bằng Pháp văn của Nguyễn Văn Vĩnh Komatsu đã cấp tốc dịch ra tiếng Nhật ngay năm sau-1942- bản  Kim Vân Kiều bằng tiếng Nhật đã được NXB.Đông Bảo xuất bản và phát hành ở Nhật Bản.    

Bản dịch Truyện Kiều lần thứ hai ra tiếng Nhật là bản dịch công phu hơn đó là bản Kim Vân Kiều do Takeuchi Yonosuke(Ta-ke-u-chi Yô-nô-su-ke) 内  dịch NXB. Kodansha xuất bản 1975. Giáo sư Takeuchi sinh năm 1922 ở tỉnh Yamaguchi (phía nam Nhật Bản). Năm 1941 ông tốt nghiệp khoa Pháp văn Trường Ngoại ngữ Osaka. Năm 1957 ông giảng dạy tại Trường Đại học Kita Kyushu (tỉnh Fukuoka) rồi được điều về Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo 外国 để xây dựng bộ môn ngôn ngữ và văn học Việt Nam. Hiện nay ông đã nghỉ hưu. Ông là dịch giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam như: Chinh phụ ngâm Lục Vân Tiên Đoạn tuyệt Hồn bướm mơ tiên…Tất cả những sách này đều được Đại học thư lâm (Daigaku shorin) ấn hành.    

Về cái duyên  đến với Truyện Kiều ông kể: Khoảng năm 1959-1960 ông có được nghe thầy mình Gs.Hatakenaka thuyết trình một báo cáo nhan đề Kim Vân Kiều và văn học thời Edo trong đó có nhắc đến Truyện Kiều của Việt Nam làm ông hết sức chú ý. Khoảng đầu những năm 60 ông có sang Sài Gòn dạy ở Trường sinh ngữ thuộc Đại học Sài Gòn khoảng bốn năm rưỡi. Chính những năm đó ông được giáo sư người Trung Quốc là Diệp Truyền Hoa tặng cho bản Kim Vân Kiều tân truyện bằng chữ Nôm Quan Văn Đường tàng bản (Hà Nội). Bản Kiều Nôm này do thân phụ của giáo sư Diệp Truyền Hoa ở Hội An lưu giữ. Có được bản Truyện Kiều quý trong tay giáo sư Takeuchi  đã sưu tầm thêm những văn bản khác   bản chữ Nôm chữ Quốc ngữ và cả bản bản dịch Pháp văn rồi bắt tay vào dịch ra thơ tiếng Nhật. Ông kể: “ Năm 1962 Truyện Kiều dịch kể như tạm xong. Bây giờ đọc lại thấy nhiều chỗ dịch sai dịch ép nhiều chỗ dịch lạ không phải chỗ nào cũng coi được cả. Sau khi về Nhật giữ cương vị ở Đại học Ngoại ngữ Tokyo hiện nay được sự khích lệ của Giáo sư Matsuyama tôi đã sửa đi chữa lại nhiều lần cuối cùng bản dịch này cũng đã hoàn thành”(3). Năm 1975 nhà xuất bản Kodansha một nhà xuất bản rất nổi tiếng của Nhật xuất bản sách này. Và đó là bản dịch Kim Vân Kiều bằng tiếng Nhật thứ hai.

Truyện Kiều Nàng Kiều
 

    Đến năm 1985 giáo sư Takeuchi lại soạn lại Kim Vân Kiều với bản trích dịch cô đọng hơn chủ yếu dùng để làm tài liệu học tập cho sinh viên. Bản dịch có tên là Kim Vân Kiều tân truyện do Đại học thư lâm  林   (Daigaku shorin) xuất bản. Phía sau cuốn sách có phụ bản chữ Nôm với loại chữ Nôm viết bằng máy tính(4).    

Bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Nhật của giáo sư Takeuchi - bản Kim Vân Kiều do Kodansha xuất bản là công trình dịch thuật rất công phu dày đến gần 400 trang khổ 14 5x20 5. Ông dịch sang thơ Nhật có chú giải kĩ lưỡng từng câu. Giới nghiên cứu sinh viên Nhật Bản cũng như đông đảo bạn đọc quan tâm đến văn học phương Đông quan tâm đến Việt Nam đánh giá rất cao cuốn sách này(5).    

Thế nhưng không phải chỉ ở Việt Nam mới có Truyện Kiều cũng không phải đến nay Nhật Bản mới có bản dịch Truyện Kiều. Trước bản dịch Truyện Kiều của Takeuchi hơn 200 năm thì truyện về nàng Kiều đã được dịch ra tiếng Nhật. Tất nhiên bằng con đường khác: con đường từ Trung Hoa từ bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân 清心才人.

KIM KIỀU TRUYỆN  VÀ  KIM NGƯ TRUYỆN   

Phần trình bày  dưới đây về Kim Vân Kiều truyện ở Nhật Bản chúng tôi dựa chủ yếu vào bài viết Kim Vân Kiều và văn học thời Edo 江戸文学 của Gs.Hatakenaka Toshirô (Ha-ta-kê-na-ka Tô-shi-rô)畠中 敏郎. Bài viết này được viết ra vào cuối những năm năm mươi sau đó được Gs.Takeuchi in ở phần sau bản dịch Kim Vân Kiều của mình (Kodansha 1975).    

Nhật Bản thời Edo (Ê-đô) (thế kỉ 16-19) có cả một trào lưu dịch và phóng tác các tác phẩm văn nghệ Trung Quốc trong đó có Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Bản dịch Kim Kiều truyện (ở Nhật thường lược chữ Vân trong Kim Vân Kiều truyện đi) lần đầu tiên ở nhật Bản là cuốn: Tú tượng thông tục Kim Kiều truyện       dịch vào năm 1763. Toàn truyện có 7 tập 20 hồi được đóng thành 5 quyển. Dịch giả là Nishida Isoku (Ni-shi-da I-so-ku)西 (Tây Điền Duy Tắc ?- 1765) người vùng Omi (nay thuộc tỉnh Shiga gần Kyoto). Oâng là dịch giả của nhiều bộ sách nổi tiếng như: Thông tục Tùy Dạng đế ngoại sử Thông tục xích thằng  kì duyên …. Cuốn Tú tượng thông tục Kim Kiều truyện      của ông là bản dịch xác thực so với nguyên bản. Chữ “thông tục” trong tựa đề có nghĩa là bình dị dễ hiểu với quảng đại quần chúng. Sách nổi tiếng một thời từng được nhiều nghệ sĩ dựa vào để phóng tác cải biên được đưa lên sân khấu Jôruri (tĩnh lưu li) và Kabuki (ca vũ kĩ). Đoạn Tú Bà dạy Kiều về “Bảy chữ tám nghề” đối với nhiều người là rất hấp dẫn nên đã được diễn tả đầy đủ. Cũng cần phải nói thêm trong sách Khánh Trường dĩ lai chư gia trước thuật mục lục (Thư mục sách của các tác giả từ  thời Khánh Trường (1596) cho đến nay) có ghi tên sách Dịch thuyết Kim Kiều truyện 訳説金 12 quyển của Nishida西田 nhưng không biết chắc là đã hành thế hay chưa.    

Mấy chục năm  sau bản dịch Kim Kiều truyện ra đời ở Nhật Bản xuất hiện một cuốn tiểu thuyết phóng tác từ Kim Kiều truyện đó là Phong tục Kim Ngư truyện (gọi tắt là Kim Ngư  truyện) của Kyokutei Bakin (Kyôku-tei Ba-kin) (Khúc  Đình Mã Cầm).    

Kyokutei Bakin(1767-1848) người Edo (Tokyo hiện nay) là nhà văn rất nổi tiếng cuối thời Edo. Oâng là tác giả của nhiều truyện có nội dung “khuyến thiện trừng ác” như các bộ: Thung thuyết cung trương nguyệt 椿 Nam tổng lý bát kiến khuyển truyện Cận thế thuyết mỹ thiếu niên lục 説美少年録. Đồng thời ông cũng là người phóng tác nhiều tiểu thuyết bạch thoại Trung Quốc như: Khuynh thành Thủy hử truyện Tân biên Kim Bình Mai … và một tác phẩm ít được nhắc đến hơn trong sự nghiệp sáng tác của ông là Kim Ngư truyện 金魚傳 phóng tác từ  Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Kim Ngư truyện 金魚傳 của Bakin được viết trong mười năm trời từ 1829 đến 1839. Vì là tiểu thuyết phóng tác nên trong truyện Bakin đã thay đổi toàn bộ bối cảnh thời đại nhân vật từ Trung Hoa thành Nhật Bản. Chẳng hạn như: thời Gia Tĩnh triều Minh thành thời Muromachi (Mu-rô-ma-chi) của Nhật Bản(Tk.14-16). Địa danh nhân vật cũng được “Nhật Bản hóa” triệt để.

Địa danh:

Bắc Kinh   thành  Naniwa (Nan Ba - Osaka ngày nay)

Liêu Dương        Kamakura 鎌倉 (Liêm Thương - gần Tokyo ngày nay)

Lâm Thanh          Akô 赤穂 (Xích Tuệ - thuộc tỉnh Hyôgo gần Kyoto)    

Lâm Truy             Akamagaseki 赤間ヶ関 (Xích Gian Cá Quan)     

 

 

Nhân vật:

Vương Ông   tương đương với  Thuyền Vĩ  Lân Tàng 船尾 鱗蔵

Thúy Kiều                                Ngư Tử 魚子

(Hoa Nô                                     Du nữ tên Phong Diệp 楓葉)

Vương Quan                              Kì Nhị Lang 鰭二郎

Thúy Vân                                   Ất Ngư 乙魚

Kim Trọng                                 Đình Tỉnh Kim Trọng 庭井金重

Từ Hải                                         Hạ Dã  Thái Lang 下野 太郎

Hồ Tôn Hiến                              Quản lãnh Phiến Cốc Triều Hưng                                                                               

  谷   

 

       

      Cốt truyện tính cách nhân vật cũng thay đổi khá nhiều.

       Gia đình người samurai thất nghiệp tên là Thuyền Vĩ Lân Tàng (Vương Ông) có ba người con cô con gái đầu tên là Ngư Tử(Thúy Kiều) vô cùng xinh đẹp. Ông Thuyền Vĩ nuôi cá cảnh do túng thiếu nên phải bán đi một con cá mái rất quý rất đẹp là loại cá Lan đào ba đuôi. Bán rồi ông thấy đau đớn như phải bán chính đứa con của mình ông than thở với vợ: “ Tôi thấy có điềm gở mai sau không chừng mình mất con bé Ngư Tử”. Quả là như vậy. Gia đình gặp tai biến. Nguyên do là Thuyền Vĩ có chơi với một bọn người sau này ông mới biết là trộm cướp. Bọn chúng bị bắt bèn khai  ra ông nên ông bị vạ lây. Nàng Ngư Tử phải bán mình chuộc cha.

      Ngư  Tử không chỉ là người có tình cảm nồng hậu mà còn là người có kiến thức rộng rãi và suy nghĩ  chín chắn. Trong đêm gặp chàng Đình Tỉnh Kim Trọng (Kim Trọng của Kim Vân Kiều) nàng Ngư Tử đã thể hiện  như một hiền nữ.  Khi gặp  Hạ Dã Thái Lang (Từ Hải) Ngư Tử đã cho tiền bọn du thủ du thực để nhờ dò xét xem chàng có phải là người đáng tin cậy không. Khi Hạ Dã Thái Lang khinh suất hòa với Quản lãnh Phiến Cốc Triều Hưng (Hồ Tôn Hiến) thì nàng Ngư Tử hết sức can ngăn. Ngư Tử còn là người phụ nữ gồm đủ cả tiết nghĩa dũng.  Thái Lang bị phản bị giết. Để trả thù cho chồng nàng Ngư Tử đã dũng cảm giết chết Bố Lưu Biện Di  kẻ đã theo kế Quản lãnh đến thuyết hàng Thái Lang rồi được Quản lãnh gả Ngư Tử cho (Bố Lưu Biện Di tương tự như cả hai nhân vật: quan thuyết hàngthổ quan). Sau hành động đó Ngư Tử nhảy xuống sông tự tử. Được cứu sống Ngư Tử (với tên là Diệu Long ) đi tu và không bao giờ trở về với cuộc sống bình thường nữa. Nàng kết am ở Kyoto và trở thành một ni sư danh tiếng. Đình Tỉnh Kim Trọng (Kim Trọng) văn võ toàn tài có công cứu con trai Tướng quân Túc Lợi Nghĩa Tình 足利 (Ashikaga Yoshiharu) khi người này bị tàn quân Thái Lang tập kích. Nhờ công tích ấy Đình Tỉnh Kim Trọng được gia đình Tướng quân vời về dưới trướng trọng dụng. Đoạn tái hồi Kim- Ngư cả hai đều không hề hé môi nói gì về lời thề ước ngày xưa và tất nhiên cũng chẳng có chuyện “đem tình cầm sắt đổi ra cầm kì” như Truyện Kiều của Việt Nam.

      “Cái bí mật của tâm hồn An Nam” văn hóa Việt Nam kết hợp với cái uyên áo của văn hóa Aán Độvà Trung Hoa cùng tư tưởng nhân văn thế kỉ 18-19 ở Việt Nam qua ngòi bút của thiên tài Nguyễn Du đã tạo nên kiệt tác Truyện Kiều. Kim Kiều truyện hay Kim Ngư truyện của Nhật Bản lại chưa phải lànhững thành tựu tiêu biểu của văn học Nhật Bản nó chỉ dừng lại ở mức văn học“treo gương” răn đời và đạo nghĩa. Nó là câu chuyện của một thời chứ không phải của muôn thuở. Và điều ấy cũng giải thích sự khác nhau về số phận giữa Truyện Kiều của Nguyễn Du Việt Nam với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Trung Quốc Kim Kiều truyện của Nishida hay Kim Ngư truyện của Bakin Nhật Bản.                                                                                    

       12. 1995-7.1999

                                         Nguồn: Bài do tác giả  cung cấp  

       

      CHÚ  THÍCH

1.      Về tư  liệu  Truyện Kiều ở Nhật Bản ngoài tư liệu của thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo chúng tôi chủ yếu dùng các công trình dịch thuật của Gs.Takeuchi mà Giáo sư đã cho chúng tôi khi chúng tôi đến thăm vào năm 1995. Nhân đây chúng tôi xin gửi dến Giáo sư lời cám ơn chân thành. Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn vị ân sư của chúng tôi là Gs.Kawaguchi Ken-ichi(ĐH.Ngoại ngữ Tokyo) đã cho chúng tôi mượn cuốn Kim Vân Kiều (Kodansha 1975) để sao chụp dùng cho bài viết này.

2.      Lời giới thiệu Kim Vân Kiều Komatsu Kiyoshi Đông Bảo xuất bản Tokyo 1942.

3.      Lời bạt Kim Vân Kiều Takeuchi Yonosuke Kodansha xuất bản 1975.

4.      Bản Kim Vân Kiều tân truyện này chúng tôi đã được Gs.Takeuchi cho vào năm 1995. Oâng Nguyễn Quảng Tuân cũng có chụp mấy trang của bản này in ở sau quyển Kiều của ông (NXB.KHXH 1997 tr.438 446 447) nhưng ông lại quên ghi nguồn gốc tài liệu.

5.      Năm 1995 chúng tôi có viết bài giới thiệu về Truyện Kiều ở Nhật Bản trên Kiến thức ngày nay (số 200-Xuân Bính tí 1996). Sau đó trên Kiến thức ngày nay số 205 ông Nguyễn Quảng Tuân(dưới biệt hiệu Văn Đức) đã đặt nghi vấn ở một số chi tiết tỏ vẻ ngờ là không chắc có những sách đó. Chúng tôi buộc lòng phải chụp các tài liệu liên quan đưa lên Kiến thức ngày nay số 212 với bài viết nhan đề : Tư liệu về Truyện Kiều ở Nhật Bản không có gì phải bàn cãi. Oâng Nguyễn Quảng Tuân đã hoàn toàn thỏa mãn và sau đó đã sử dụng tài liệu của chúng tôi trong cuốn  Kiều của mình (như chú thích 4 ở trên).

More...

Thơ: NỖI LÒNG MÙA HẠ (Trần Thị Minh Thư - TH Văn B K32).

By

alt

 

NỖI LÒNG MÙA HẠ

 

Hạ về phượng đỏ thắm sân chơi

Dáo dác hoa tươi đỏ thắm rồi

Nhặt lá lòng dâng bao luyến tiếc

Viết câu lưư bút xiết bao lời

Ve than hờ hững mà nao ruột

Chạnh thấy chiều côi man mác trôi

Hè đưa nức nở đong châu luỵ

Thấm đẫm ngây thơ buổi vắng người

Lòng nương tan tác vương chiều lặng

Ngoái thấy cô liêu nặng núi đồi

Cánh nhạn trời Tây như sầu mỏi

Quyên xa gọi vắng nhói trăng gầy

Ai biết tình ai ai có biết!

Biết chăng! Ai biết khuyết hay đầy.

                Minh Thư - Văn Bk32

 

More...