NHÀ VĂN TÀI NĂNG VÀ SỰ SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT (Th.S Võ Minh Hải).

By

Nhà văn tài năng và sự sáng tạo nghệ thuật

                                                  Võ Minh Hải

                              (Khoa Ngữ văn Đại học Quy Nhơn)

        Sáng tạo là quá trình tìm hiểu về chân lý nghệ thuật với tư cách là một đối tượng chiếm lĩnh đặc thù. Nó thoát thai từ cuộc sống mang lại những hương vị thơm ngát dung dưỡng tâm hồn con người. Trong hoạt động ấy tài năng của người nghệ sỹ dường như là yếu tố quan trọng nhất đó cũng là cái mà nhà văn Nga Tuốc – Ghê – Nhép muốn đề cập đến trong quan điiểm của mình:“ Cái quan trọng trong tài năng văn học là cái mà tôi muốn gọi là tiếng nói của mình..”.

      Tài năng của người nghệ sỹ là vấn đề luôn gây tranh cãi. Một tác phẩm thật sự mang lại cảm xúc cho người đọc không chỉ ẩn chứa trong nó nội dung sâu sắc mới lạ mà còn phản ảnh được cái chân tài của nhà nghệ sỹ. Đó là yếu tố uyển chuyển ẩn chứa trong tác phẩm và thể hiện thông qua nhiều khía cạnh khác nhau từ quan điểm góc nhìn chi tiết hình tượng khả năng thâm nhập cuộc sống vốn văn hoá…Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là như thế nào là nhà văn tài năng và giàu cá tính sáng tạo? Vì sao nó lại là yếu tố quan trọng nhất?

      Theo truyền thống của Phương Đông người ta luôn coi cái tài là do trời ban cho. Quan niệm này giúp cho người nghệ sỹ tránh được thói tự mãn kiêu căng vô lối. Còn những người theo quan điểm thực tế thì luôn cho rằng tài năng chính là do công phu rèn luyện mà thành. Quan niệm này giúp cho nhà nghệ sỹ vững chí rèn tài. Song cái khả năng ấy suy cho cùng là vậy nó vừa là những khả năng thiên phú nhưng đồng thời nó cũng vừa là nhờ công phu rèn luyện của họ. Cái cá tính của nhà văn là sự thể hiện những tư chất những khả năng đặc biệt của họ trong sáng tạo nghệ thuật đặc biệt là văn chương. Đó là sự tổng hợp sức mạnh năng động giàu có sâu sắc của thế giới nội tâm trong mối quan hệ với ngoại giới. Nó là kết tinh không chỉ bởi sự khổ luyện một đời của nhà văn nhà thơ mà có khi là thông qua một mã di truyền của cả một dòng họ qua bao đời đúc kết mà thành. Không ai phủ nhận tài năng của Nguyễn Du khi sáng tác Kim Vân Kiều ( Đoạn Trường tân thanh) mà không có sự ảnh hưởng của truyền thống sáng tác của họ Nguyễn ở Tiên Điền. Cái tài của người sáng tác văn chương còn là sự cô đọng của cả một nền văn hoá mà bản thân họ được tắm trong đó nó như bầu không khí vô trùng và ngẫu nhiên mang lại cho họ những suy tư trong tâm hồn những sầu muộn rất người những lý giải phân tích hợp lý về cuộc đời về lẽ sống niềm tin…Bởi thế giây phút sáng tác là những giây phút thăng hoa cùng với những cảm hứng tuyệt vời. Tạo hoá đã trao cho họ sứ mệnh chăn sóc tâm hồn con người nhưng đồng thời cũng ban cho họ một trí tưởng tượng siêu việt vượt lên trên mọi biên độ để tạo ra những chân trời nghệ thuật. Con tạo đã ký thác chân lý của hoàn vũ nhân sinh thế sự vào trong họ và với những chất liệu tươi rói của cuộc sống họ đã xây dựng nên biết bao hình tượng sâu sắc. Sự mòn mỏi của người chinh phụ sự tự ý thức của người cung nữ đã được tác giả các khúc ngâm mô tả chân thực tỉ mỉ đã tạo nên khả năng hiện thực hoá tâm hồn phản ánh những trăn trở băn khoăn trong tâm lý người phụ nữ đời loạn người cung nữ nơi cung cấm những thành công ấy nếu không có cái tài khả năng lắng nghe của của nhà thơ thì có lẽ nó chỉ là một kiểu tự sự như các kiểu thuật sự trong Tình sử Trung Hoa (tên tác phẩm gồm hai tập do NXB Văn nghệ TP HCM XB Phùng Mộng Long biên trứ) .

      Tài năng và cá tính sáng tạo của nhà văn giống như tảng băng trôi nó có phần nổi có phần chìm và cũng như vậy tài năng và cá tính của người nghệ sỹ có phần thực có phần ảo. Khả năng giao thoa giữa hai phần này sẽ mang lại cho tác phẩm sức hấp dẫn và khả năng tái tạo mới trong vấn đề thanh lọc tâm hồn người đọc. Bản thân nhà văn còn là một cá thể xã hội một thực thể mang đầy cá tính điều đó góp phần trong việc tạo nên giá trị độc đáo riêng biệt của từng ngòi bút trong sáng tác. Trên cơ sở này mỗi người sẽ phát huy được khả năng tiềm  ẩn vốn có của mình. Những nhà thơ là những nhà ngoại cảm vĩ đại cảm xúc trong họ dâng coa nhưng ngọn triều và tuôn ra những dòng thơ mang nhiều sắc thái. Ta bắt  gặp xúc cảm mạnh mẽ trong thơ Vũ Hoàng Chương tinh tế trong thơ Nguyễn Bính cuồng nhiệt khao khát trong thơ Xuân Diệu ngỗ nghịch trong thơ Hồ Xuân Hương đoan trang cổ kính trong thơ Bà Huyện Thanh Quan… lại có những nhà thơ thích suy lý như Chế Lan Viên có người lại mang vẻ thâm thuý sâu sắc của sỹ phu Bắc Hà như Nguyễn Khuyễn có người lại mang dáng vẻ khá Tây trong bộ áo the của nhà nho đương buổi giao thời như Tản Đà… và tất cả đọng lại trong dòng chảy văn học như những chứng nhân của một thời quá khứ xa xôi nhưng còn vọng lại đến hôm nay và nó còn thể hiện ở khả năng sử dụng ngôn từ nghệ thuật đúng hơn đó là giọng văn của họ.Điều này ta thấy rõ qua giọng văn duy mỹ cầu kỳ khinh bạc nhưng lại trong sáng hồn nhiên của Nguyễn Tuân giọng văn có sức ám ảnh đến ma thuật vừa sắc sảo lạ lùng đến tàn nhẫn của Nguyễn Huy Thiệp hay giọng văn dí dỏm vui tươi bợt cợt nhưng sâu sắc có giá trị răn đời cảnh thế của Vũ Trọng Phụng.  Vậy tài năng và cá tính là yếu tố bên trong của khí chất là cái giúp người ta phân biệt giữa phong cách này với phong cách khác. Tất cả đã hoà vào trong một vẻ đẹp duyên dáng quyến rũ – Duyên thầm.

      Đến đây chúng ta có thể khẳng định rằng tài năng của nhà văn chính là cá tính sáng tạo nghệ thuật. Đó là cái thật sự độc đáo đó là cái tài nói lên đựoc nhiều điều mà không phải ai cũng nói đựơc đúng hơn đó là cái tài thổi hồn vào những xác chữ mang lại vẻ đẹp tự nhiên tươi rói như hoa đồng nội nhưng tiếng chim giữa rừng hoang núi thẳm và người nghệ sỹ nói chung và văn sỹ nói riêng mất đi chính họ thì xã hội cũng sẽ mất đi những tác phẩm kiệt xuất độc đáo. 

          Quy Nhơn tháng 10 năm 2006 

More...

Ký Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945.

By

Ký  Việt Nam từ đầu thế  kỷ đến 1945 
PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn 
Viện Văn học
 
Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết vốn cĩ sự ổn  định tương đối về đặc trưng thể loại các tác phẩm ký tuy cùng nằm trong loại hình văn xuơi tự  sự song lại là tên gọi chung cho một nhĩm thể tài cĩ tính giao thoa giữa báo chí (chính luận điều tra ghi chép tư liệu tường thuật sự kiện...) với văn học in đậm dấu ấn “sự hợp nhất truyện và khảo cứu” (M. Gorki) và thường cĩ tính xã hội tính thời sự sâu sắc bao gồm nhiều tiểu loại thể văn như bút ký ký sự phĩng sự tiểu thuyết phĩng sự du ký hồi ký nhật ký tuỳ bút tản văn tạp văn tiểu luận (et-xe)(1)... Đặc điểm sự giao thoa này càng trở nên rõ ràng khi mà bản thân thể tài ký cịn đang trong quá trình hình thành và phát triển khi mà ngay đường biên thể loại giữa truyện ngắn và ghi chép giữa tiểu thuyết và phĩng sự đơi khi cũng chưa được phân định rõ nét. Đây cũng là đặc điểm chung của văn học Việt Nam ở giai đoạn bước đầu hiện đại hố đang từng bước hội nhập vào nền văn học cĩ tính chất tồn nhân loại.  

 

Trên thực tế nền văn học dân tộc thời trung đại nhất là ở  giai đoạn hậu kỳ cũng đã xuất hiện nhiều tác phẩm ký xuất sắc như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1720-1791) Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ (1821-1882) Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký (1837-1898)... Bước sang thế kỷ XX cùng với sự phát triển vượt bậc của chữ Quốc ngữ và việc ra đời các loại báo tạp chí các nhà xuất bản khắp trong cả nước thì thể tài ký cũng xuất hiện và mau chĩng giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn học. Ở đây trước hết phải ghi nhận những sáng tác cĩ ý nghĩa đặt nền mĩng của Tản Đà (1889-1939) - người đã cĩ cơng “khai sinh cho nhiều thể văn trong văn học Việt Nam buổi đầu thế kỷ” - đặc biệt cũng chính ơng là người đã đề xuất và tự mình khai bút cho mục “Việt Nam nhị thập kỷ - Xã hội ba đào ký” trên An Nam tạp chí (khơng đều kỳ 1926-1933). Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã sớm xác định vị trí thể văn bút ký của Tản Đà: "Nếu kể Việt văn thì trong khoảng mấy năm 1915 1916 1917 Nguyễn Khắc Hiếu đã viết nhiều bài phiếm luận cĩ tính cách bút ký vì ơng đã căn cứ vào cuộc đời để phát biểu tư tưởng của mình. Chắc nhiều người cịn nhớ những bài: Luận về ăn ngon Thằng người ngây cưỡi con ngựa hay và nhiều bài khác nữa trong Đơng Dương tạp chí của thi sĩ Tản Đà”(2) 

Gắn liền với sự  phát triển của báo chí trong vài ba thập niên đầu tạp chí Nam phong (1917-1934) đã đi tiên phong trong việc in các tác phẩm ký nhất là loại du ký - du hành ghi chép và tuỳ bút. Bên cạnh phần trọng tâm là các trang khảo cứu biên dịch bình luận các vấn đề chính trị - xã hội - văn hố là nhiều mục bài ghi chép du ký - du hành với những đĩng gĩp đa dạng của Phạm Quỳnh Thiện Đình Nguyễn Trọng Thuật Nguyễn Tiến Lãng Đơng Hồ Mộng Tuyết... Khi thực hiện cơng trình Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong 1917-1934 nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký là một trong 14 bộ mơn và nêu nhận xét về thể du ký - cịn được ơng gọi là du hành - trên Tạp chí Nam phong: “Trong mục Du ký này phải kể bài Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng Mười ngày ở Huế Một tháng ở Nam kỳ và nhất là Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”(3)...  

 

Bước sang thập kỷ  ba mươi thể tài ký Việt Nam cĩ bước phát triển vượt bậc cả về lượng và chất. Cĩ thể nĩi cùng với sự trưởng thành mau chĩng của ngành xuất bản báo chí cộng hưởng với tinh thần cởi mở dân chủ hố một bước đời sống tư tưởng xã hội đã gĩp phần quan trọng tạo nên bước ngoặt của hoạt động văn học nghệ thuật. Trong bối cảnh chung ấy tất cả các loại hình và thể loại văn học như thơ ca văn xuơi kịch dịch thuật biên khảo... đều thu được thành tựu lớn lao. Nĩi riêng ở thể tài ký cũng nở rộ các thể văn như phĩng sự bút ký tản văn hồi ký du ký ... từ đĩ tạo nên diện mạo chủ yếu của lịch sử thể tài ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.  

Phù hợp với tiến trình văn học sử 1930-1945 nĩi chung sự phát triển của thể ký giai đoạn này cũng cĩ thể  chia thành hai chặng đường lớn: 1930-1939 và 1940-1945.   

Ở chặng đường nằm trọn trong thập kỷ ba mươi thể loại ký về cơ bản đã định hình phong cách nghệ thuật với các thể văn như phĩng sự hồi ký nhật ký bút ký ghi chép du ký... Đặt trong dịng mạch phát triển chung việc xuất hiện phĩng sự Tơi kéo xe của Tam Lang (Hà thành ngọ báo 1932; Trung Bắc xuất bản 1935) cĩ ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết tác phẩm vừa xác lập dịng chủ lưu của thể ký nghĩa là chính thức đưa thể văn phĩng sự lên ngơi đồng thời mở đầu cho một kiểu loại văn học mới. Trong quá trình phát triển thể loại văn học cịn chưa rõ ràng song vẫn cĩ thể định danh được các tác gia viết ký tiêu biểu của thời kỳ này là Tam Lang (Vũ Đình Chí) Trọng Lang (Trần Tán Cửu) Vũ Trọng Phụng Ngơ Tất Tố Nguyễn Tuân Phùng Tất Đắc Lê Văn Hiến v.v...  

Như đã nĩi trên Tam Lang là nhà văn giữ vị trí chiếu nhất trong làng phĩng sự Việt Nam hiện đại. Cĩ thể khẳng định tất cả các tác phẩm của ơng như Tơi kéo xe (1932) Đêm Sơng Hương (viết 1932 in sách 1938) Lọng cụt cán (1939) Người... ngợm (1940) đều sớm đạt đến giá trị nghệ thuật chuẩn mực cổ điển. Qua các phĩng sự này Tam Lang đã nhập thân sâu sắc vào cuộc sống hàng ngày của người phu xe (Tơi kéo xe) kiếp sống long đong của gái làm tiền nơi sơng nước (Đêm Sơng Hương) và tiếng nĩi châm biếm sâu cay bọn quan lại nghị gật (Lọng cụt cán)... Trên phương diện tư duy sáng tạo vai trị chủ thể giữ ngơi thứ nhất vừa là người trải nghiệm trong cuộc chứng kiến chuyện “người thực việc thực” vừa là nhân vật thuật chuyện kể chuyện trình bày rõ những điều tai nghe mắt thấy. Từ năm 1942 nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã nhận định: “Dù ở tác phẩm nào của Tam Lang người ta cũng thấy cây bút của ơng là cây bút tả chân và châm biếm; ơng nhạo đời để răn đời chứ khơng bao giờ cĩ giọng độc ác. Bởi vậy nếu xét kỹ người ta sẽ thấy trong những tập phĩng sự và những tập châm biếm trào phúng trên này những tư tưởng thật là bác ái bao giờ cũng cĩ cái khuynh hướng bênh vực hạng người nghèo khổ kém hèn mà bênh vực vì lẽ phải vì nhân đạo chứ khơng xen lẫn một ý nghĩ chính trị nào”(4). Đến cuối thế kỷ nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh sau khi khảo sát các phương diện nội dung và nghệ thuật tác phẩm cũng khẳng định: “Với quyển Tơi kéo xe đã cĩ thể coi ơng là người cĩ cơng mở đầu cho thể văn phĩng sự ở nước ta. Hơn thế ơng cịn là một trong số hiếm hoi những người cĩ tài năng cĩ cống hiến đặc sắc độc đáo vào thể văn châm biếm trào phúng trong văn chương Việt Nam những năm ba mươi của thế kỷ XX này”(5) 

Nối tiếp là Vũ  Trọng Phụng - nhà văn được bậc khai quốc thể  phĩng sự hiện đại Tam Lang ghi nhận là đã vượt lên và tiến xa trên nhiều phương diện. Điều đáng nĩi là phĩng sự sáng tác của Vũ Trọng Phụng nĩi chung đều nằm trọn vẹn trong thập kỷ ba mươi với các nhan sách nổi tiếng như Cạm bẫy người (1933) Kỹ nghệ lấy Tây (1934) Cơm thầy cơm cơ Lục xì (1937) Một huyện ăn tết (1938)... Các phĩng sự của Vũ Trọng Phụng thể hiện rõ sự đa dạng về đề tài về khả năng phân tích sự kiện và tâm lý nhân vật về tầm bao quát nội dung xã hội cũng như nghệ thuật dẫn truyện. Vũ Trọng Phụng đi sâu phát hiện vấn đề miêu tả sâu sắc nhiều trạng huống xã hội mới nảy sinh như nạn cờ bạc đã được nâng thành kỳ nghệ (Cạm bẫy người) nghề me Tây mới phất (Kỹ nghệ lấy Tây) cuộc sống đời thường muơn mặt của những con sen đứa ở (Cơm thầy cơm cơ) thế giới đầy nhọc nhằn của bọn gái làm tiền (Lục xì) và đủ lối làm tiền tham lam trắng trợn của tầng lớp quan lại chốn hương thơn (Một huyện ăn tết)... Ngay từ đương thời nhà phê bình Trương Tửu đã phân tích sâu sắc những giá trị tư tưởng và nghệ thuật mang đầy tính nghịch lý trong mạch văn phĩng sự của họ Vũ: "Ơng làm phĩng sự về con bạc làm phĩng sự về đầy tớ làm phĩng sự về gái điếm làm phĩng sự về me tây. Ơng viết ra bốn quyển kiệt tác: Cạm bẫy người Cơm thầy cơm cơ Lục xì Kỹ nghệ lấy Tây - nền mĩng đầu tiên của nghệ thuật phĩng sự trong văn giới Việt Nam hiện đại. Viết bốn quyển ấy ơng muốn lột trần cái hạ đẳng của xã hội. Trong các trang giấy đĩ khơng cĩ sự khinh bỉ khơng cĩ lịng thương hại khơng cĩ ác ý mỉa mai. Ngịi bút ơng thật là khách quan và vơ tư. Ơng sợ cái đời hạ đẳng ấy. Cái sợ này rất chính đáng. Ơng đã thừa biết bọn người khốn nạn kia khơng bao giờ chờ được ở xã hội một cứu tế thiết thực. Đĩ là hạng người muốn tiêu trừ hơn là cứu vớt. Rơi xuống cái đẳng cấp ấy tức là trầm luân mãn kiếp và bị diệt vong... khơng để lại tiếng vang nào"(6). Nhà nghiên cứu Nguyễn Hồnh Khung xác định vị trí văn học sử của bộ phận phĩng sự: “Vũ Trọng Phụng chỉ nổi tiếng từ những phĩng sự Cạm bẫy người Kỹ nghệ lấy Tây. Là một trong hai người viết phĩng sự đầu tiên Vũ Trọng Phụng đã cĩ cơng lớn trong việc nhanh chĩng đưa thể loại văn xuơi này đến chỗ thành thục cĩ vị trí vững vàng trong văn xuơi quốc ngữ... Ơng là một trong số những người mở đầu và là người cĩ cơng lớn nhất trong việc đưa thể loại phĩng sự ở Việt Nam đến thành thục”(7). Qua thời gian dài việc đánh giá về Vũ Trọng Phụng ngày càng khách quan sâu sắc và tồn diện hơn ngày càng nhận thức khoa học hơn những đĩng gĩp xuất sắc của dịng văn phĩng sự đối với sự phát triển chung của nền văn học hiện đại.  

Tác giả Trọng Lang cũng là cây bút viết phĩng sự sớm và chuyên nhất với thể văn này trong một thời gian dài. Các tác phẩm chính của Trọng Lang cĩ Trong làng chạy Đời bí mật của sư vãi Gà chọi (1935) Đồng bĩng (1935-1936) Hà Nội lầm than (1937) Làm dân (1938) Làm tiền (1939); và sau này cịn cĩ thêm Thầy “lang” Vợ lẽ nàng hầu Những đứa trẻ (1941-1944)... Các phĩng sự ghi chép của Trọng Lang in khá rõ phong cách điều tra kể chuyện khai thác tư liệu thực tế. Nhà văn đã mở rộng diện đề tài bao quát cả những khía cạnh đời sống tinh thần phong tục tập quán và thực trạng những lối sống mới đang nảy sinh. Ở đây cĩ cả thế giới muơn màu vẻ của bọn trộm cắp (Trong làng chạy) đời sống nhếch nhác cùng cực nơi thị thành (Hà Nội lầm than Làm tiền) và muơn mặt những tệ nạn sau luỹ tre làng (Làm dân Xơi thịt)... Nhiều trang viết thực sự sinh động phơ bày được những gĩc khuất tối của bọn người trộm cắp đồng cốt gái làm tiền tệ nạn thuốc phiện... Khơng chỉ phản ánh và bộc lộ thái độ trước các vấn đề xã hội mà Trọng Lang cịn tỏ bày khuynh hướng tư tưởng chỉ ra những nỗi cơ cực đau xĩt của lớp người “làm dân” dưới đáy xã hội. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan từng khái quát ý nghĩa sáng tác của Trọng Lang: “Trong số các nhà văn viết phĩng sự gần đây Trọng Lang cĩ ĩc phê bình hơn cả. Văn ơng đanh thép và sắc cạnh chuyên về tả cảnh nhiều hơn tả tình... Muốn hiểu tâm hồn những hạng dân quê đã bị “lây” ít nhiều thĩi tỉnh thành phải đọc những phĩng sự của Trọng Lang; nhưng muốn hiểu tâm hồn những người dân quê cịn đặc quê mùa cần phải đọc những tập phĩng sự và tiểu thuyết phĩng sự của Ngơ Tất Tố”(8).   

Ngơ Tất Tố viết khá nhiều phĩng sự ghi chép tiểu phẩm báo chí.  Ơng là nhà phĩng sự xuất sắc viết về  đề tài nơng dân và làng cảnh thơn quê trước Cách mạng đặc biệt với các tác phẩm Tập án cái đình (1939) Việc làng (1940) - trước đĩ cịn cĩ tập Dao cầu thuyền tán và nhiều tiểu phẩm văn học khác. Là người cĩ vốn văn hố sâu rộng và thơng thuộc nhiều mặt đời sống dân quê Ngơ Tất Tố đã phản ánh được bức tranh xã hội rộng lớn bao gồm từ phong tục tập quán đến cuộc sống thường ngày từ nỗi khổ cùng cực của người dân đen đến muơn mặt tệ lậu đám chức dịch. Ngơ Tất Tố xứng đáng được coi là nhà xã hội học nghệ thuật ngơn từ xuất sắc bậc nhất về nơng thơn Việt Nam trước Cách mạng. Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ nhận xét: “Trong hai phĩng sự Tập án cái đìnhViệc làng Ngơ Tất Tố tìm cách phơi trần những sự thật xấu xa về các hủ tục ở nơng thơn xem đĩ là một cái gì vơ lý “quái gở” “mọi rợ”... Việc làng đã gĩp phần lên án chính sách ngu dân thâm độc của đế quốc Pháp ở thuộc địa đã tố cáo những thủ đoạn bĩc lột của bọn cường hào lý dịch ở nơng thơn và là một địn đánh rất mạnh và trực tiếp vào chủ nghĩa phục cổ”(9). Về tiểu phẩm báo chí Ngơ Tất Tố (với các bút danh Thục Điểu Đạm Hiên Thuyết Hải Thơn Dân Tuệ Nhỡn Hy Cừ Phĩ Chi Xuân Trào Lộc Hà...) cĩ nhiều trang viết sắc sảo giàu tính chiến đấu giàu ý thức dân tộc...   

Mặc dù trong ký  cịn cĩ sự giao thoa giữa các “thể” và  “tiểu loại” song Vũ Ngọc Phan đã định danh những người viết bút ký tiêu biểu của thời kỳ này: “Lối văn này khơng mới nhưng nhiều người vẫn cho là mới đối với những loại văn sản xuất gần đây. Nếu kể Việt văn thì trong khoảng mấy năm 1915 1916 1917 Nguyễn Khắc Hiếu đã viết nhiều bài phiếm luận cĩ tính cách bút ký vì ơng đã căn cứ vào cuộc đời đã phát biểu tư tưởng của mình... Gần đây những nhà văn viết bút ký cứng cáp hơn cả là Nguyễn Tuân và Phùng Tất Đắc(10)... Với Nguyễn Tuân tác phẩm của ơng cĩ khi được gọi là du ký như Một chuyến đi (in báo 1938 in sách 1941) cĩ khi là phĩng sự như Ngọn đèn dầu lạc (1939) Tàn đèn dầu lạc (1941) - trong khi Vũ Ngọc Phan cho đĩ “chỉ là một thiên phĩng sự về thuốc phiện chia làm hai quyển mà đáng lý phải mang chung một nhan đề: “Ngọn đèn dầu lạc” - hoặc tuỳ bút như Chiếc lư đồng mắt cua (1941). Các tác phẩm ký của Nguyễn Tuân cĩ tính chất tiếp nối giữa hai thập kỷ ba mươi và bốn mươi. Ngồi ra tác phẩm của Nguyễn Tuân thể hiện rõ hơn hết cốt cách nhà văn và tính chất hỗn dung giữa các thể văn. Vũ Ngọc Phan đã nhận xét đúng mức: “Ơng là một nhà văn đứng hẳn ra một phái riêng cả về lối văn lẫn về tư tưởng... Những bài bút ký những truyện ngắn truyện dài của ơng (...) đã làm cho văn giới Việt Nam phải chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ơng và những ý kiến cùng tư tưởng phơ diễn bằng những giọng tài hoa sâu cay và khinh bạc lúc thì đầy nghệ thuật lúc thì bừa bãi lơi thơi như một bức phác hoạ nhưng bao giờ nĩ cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn”(11)... Với Phùng Tất Đắc thực chất ơng chỉ viết một số tản văn tạp văn trên các báo Đơng Tây Nhật tân và tập sách Trước đèn (1939). Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan xếp Trước đèn vào thể bút ký nhưng cũng gọi đây là tập “phiếm luận” “nĩi chơi” “lời bàn phiếm”... Như vậy các sáng tác của Nguyễn Tuân Phùng Tất Đắc đã bổ sung thêm dịng phong cách nhấn mạnh vai trị chủ thể khả năng cảm luận phiếm luận để rồi sau này phát triển hồn chỉnh thêm ở các tác phẩm tuỳ bút bút ký.  

Nĩi đến diện mạo lịch sử ký Việt Nam thời kỳ này cần phải ghi nhận vai trị của nhiều cây bút đã viết ghi chép phĩng sự điều tra nhật ký hồi ký du ký. Ở đây cĩ những trang tường thuật cuộc sống người nghệ sĩ như Trương Đình Thi với Tơi kép kịch (1934) Trần Tiêu cĩ phĩng sự điều tra Thanh niên thơn quê (1938). Về hồi ký cĩ Lê Văn Hiến với Ngục Kontum (1938) đã kể lại cuộc sống lao tù khắc nghiệt nhưng đầy quả cảm của những người cách mạng. Ngồi ra cịn cĩ nhiều trang viết in báo ngắn gọn mang phong cách du ký (bao gồm đi thăm di tích lịch sử danh lam thắng cảnh du lịch sinh thái lễ hội hội chợ...) của nhiều cây bút như Nhất Linh Việt Sinh (Thạch Lam) Lê Ta (Thế Lữ) Thạch Lam Trọng Lang Khái Hưng Thanh Tịnh... Tất cả những trang ghi chép này gĩp phần làm phong phú và tạo nên dịng chảy chung của thể ký Việt Nam tạo tiền đề cho cả một quá trình phát triển tiếp theo.  

 

Nối tiếp thời kỳ  phát triển cực thịnh trong suốt thập kỷ ba mươi các tác phẩm ký Việt Nam từ 1940 đến Cách mạng tháng Tám 1945 cĩ bước tiếp nối và sự chuyển hướng mới rất đáng chú ý. Trước hết các tác giả chủ lực như Trọng Lang Ngơ Tất Tố... vẫn tiếp tục cĩ đĩng gĩp; đồng thời các cây bút mới tiếp tục xuất hiện và khẳng định với tên tuổi những Nguyễn Đình Lạp Thạch Lam Vũ Bằng... Nhìn chung các tác phẩm ký một mặt vẫn tiếp tục khai thác hiện thực đời sống muơn màu muơn vẻ dưới chế độ thực dân nửa phong kiến; mặt khác đã quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề dân tộc từng bước ý thức sâu sắc hơn về tính dân tộc và ý thức về yêu cầu giải phĩng dân tộc đang ngày càng trở nên rõ nét hơn. Theo nhà phê bình Lê Thanh thì những năm 1940-41 là “một đoạn đường quành rõ rệt ít nhất là đoạn đầu của một đường quành” “Từ năm 1939 cuộc thế giới chiến tranh mở đầu. Tiếng súng nổ nhà văn ta đương nhiên miên man trong cuộc sống trụy lạc nhổm dậy trơng thấy cái nguy cơ của sự lười biếng của mình... Họ đứng dậy rũ áo tìm cách đoạn tuyệt với cái quá khứ nặng nề của họ. Bây giờ là thời đại của lịch sử của sự sống cịn của sự chiến đấu. Họ dự bị bắt tay vào việc”(12). Gần đây nhận xét về tình hình văn học thời kỳ này Giáo sư Hồng Như Mai nhấn mạnh: “Những năm đầu của thập niên bốn mươi dẫn đến Cách mạng tháng Tám 1945 chứng kiến một sự chuyển biến chuyển hướng trong tư tưởng nghệ thuật của các nhà văn tiêu biểu. Một sự đổi hướng tích cực... Những năm 1940-1945 là cái gạch nối giữa hai chặng đường văn học là cái đường băng cho văn học dân tộc khởi động chuyển bánh lấy đà cất cánh bay vút lên cao”(13). Đĩ cũng là âm hưởng chung của đời sống tinh thần xã hội đời sống văn hố- văn nghệ và ý thức dân tộc của số đơng các nhà văn: “Họ thấy sứ mệnh mình đối với quốc gia ra sức hơ hào cho việc làm lại xã hội tự cường xây dựng quốc gia. Luồng giĩ phục hưng dân tộc đã thổi mạnh vào tư tưởng xã hội”(14)...  

Xét trên phương diện tác gia và tác phẩm các cây bút ký xuất sắc như Trọng Lang Ngơ Tất Tố tiếp tục cĩ đĩng gĩp mới. Vào thời gian này Trọng Lang cho in các phĩng sự đã in báo trước đây thành sách như Làm tiền (1942) Làm dân (1943) viết tiếp Thầy lang (in báo 1941 in sách 1944) đồng thời với các phĩng sự mới viết về đời sống gia đình như Vợ lẽ nàng hầu (viết 1943 in 1950) Những đứa trẻ (viết 1944-1945 in 1950). Trong khi đĩ nhà văn Ngơ Tất Tố tiếp tục khai thác đề tài tệ nạn chốn hương thơn với tập phĩng sự Việc làng (in báo 1940 in sách 1941)... Ngồi ra ở thời điểm đêm trước của cuộc Cách mạng tháng Tám vẫn xuất hiện thêm một số cây bút cĩ vị trí quan trọng trong làng văn làng báo như Nguyễn Đình Lạp Thạch Lam Lộng Chương Vũ Bằng Nhật Nham Trịnh Như Tấu Mãn Khánh Dương Kỵ Biệt Lam Trần Huy Bá...  

Xem xét trên phương diện thể tài nghệ thuật cĩ thể thấy hình thức tiểu thuyết phĩng sự đã lên ngơi và giữ một vị trí khá đặc biệt. Với các tác phẩm được định danh là “tiểu thuyết phĩng sự” quả đã cĩ sự hỗn dung thể loại hỗn dung phong cách khiến cho một sự phân chia thể loại theo lối khoa học rành mạch trở nên hết sức khĩ khăn. Cĩ thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu được chính các tác giả duy danh là “tiểu thuyết phĩng sự” hoặc “phĩng sự tiểu thuyết” như Lều chõng (Ngơ Tất Tố 1941) Ngoại ơ (Nguyễn Đình Lạp 1941) Hầu thánh (Lộng Chương 1942) Ngõ hẻm (Nguyễn Đình Lạp 1943)... Nĩi riêng với tác phẩm Bút nghiên (Chu Thiên 1942) tuy tác giả đề rõ là tiểu thuyết song Vũ Ngọc Phan đã xác định: “Tập Bút nghiên của ơng tuy đề là tiểu thuyết trơn nhưng cĩ thể coi như một tập ký sự về cái lối đi học thi của ơng cha chúng ta thuở xưa hay đặt nĩ vào loại tiểu thuyết phĩng sự cũng được”(15). Hầu hết tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng như Giơng tố Vỡ đê cũng in rõ dấu ấn chất phĩng sự với những mức độ đậm nhạt khác nhau. Điều này cĩ nghĩa là nhiều tác phẩm in đậm tính chất giao thoa thể loại trong phĩng sự đã cĩ nhiều phần nghệ thuật được nâng cấp gần với tiểu thuyết và trong hình thức tiểu thuyết vẫn in đậm phong cách ghi chép phĩng sự. Những tác phẩm phĩng sự xuất sắc được coi là tương đối thuần nhất về mặt thể loại cĩ thể kể đến Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam 1943) và Cai (Vũ Bằng 1944)... Về mặt nội dung các tập Lều chõng Bút nghiên đều hướng tới đề tài khoa cử thể hiện muơn mặt đời sống học đường dưới thời quân chủ Nho giáo đã một đi khơng trở lại. Hai tập tiểu thuyết phĩng sự Ngoại ơNgõ hẻm thì cùng đề cập đến cuộc sống người dân nghèo thành thị và cùng cĩ một bút pháp thống nhất. Với tập Ngoại ơ Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Như tác giả đã cho in ngồi bìa Ngoại ơ là một tập phĩng sự tiểu thuyết. Nhưng phĩng sự tiểu thuyết là thế nào? Là một tiểu thuyết mà tác giả muốn thuật lại những việc cĩ thực những việc cĩ thể làm đầu đề cho những thiên phĩng sự và chỉ cĩ rất ít tưởng tượng... Ngoại ơ chỉ là một tập tiểu thuyết tả thực một tập tiểu thuyết tả chân vì nĩ cĩ rất nhiều tưởng tượng. Ở lối tả chân nhà tiểu thuyết cĩ thể dùng rất nhiều tưởng tượng miễn là chỉ căn cứ vào sự thực vào những điều mắt thấy tai nghe là đủ”(16). Khi đọc Ngõ hẻm Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng cảm nhận: “Cuốn Ngõ hẻm của ơng Nguyễn Đình Lạp đã phơi ra ánh sáng những mẩu đời vất vả vật lộn những cảnh gia đình vì nghèo túng mà xẩy ra tai nạn nhưng cũng khơng vì nghèo túng mà làm mất cái hạnh phúc gia đình... Chính đọc xong cuốn Ngõ hẻm tơi đã cĩ cảm tưởng ấy mỗi khi qua con đê Kim Liên nhìn dịng nước sơng Tơ và tơi lại nhớ đến những cảnh gia đình đã được mơ tả một cách rành rọt dưới ngịi bút linh động của ơng Nguyễn Đình Lạp... Tơi xin vui lịng giới thiệu thiên tiểu thuyết phĩng sự cĩ giá trị với ai ai là người hằng để tâm đến việc xã hội cứu tế”(17). Như vậy dù luận bình về nội dung hay nghệ thuật thì người đọc đương thời vẫn nhận rõ màu sắc sự thật được tái hiện trong tác phẩm nghĩa là thấy rõ cả yếu tố tiểu thuyết và phương thức ghi chép người thực việc thực của phĩng sự. Cịn lại tập tiểu thuyết phĩng sự Hầu thánh tập trung kể về nạn mê tín dị đoan những trị đồng cốt những kẻ sùng bái mù quáng và cả một bọn lợi dụng lịng tin người đời để lừa lọc kiếm ăn... Nhìn chung các tác phẩm được gọi là “tiểu thuyết phĩng sự” nêu trên đều tiềm tàng đặc điểm “già phĩng sự non tiểu thuyết” nghĩa là đã gia tăng yếu tố tưởng tượng hư cấu song vẫn chưa thốt khỏi sự ràng buộc của các chi tiết đời sống hiện thực người thực việc thực.  

Đặt trong dịng chủ lưu các thể ký thời kỳ đêm trước Cách mạng tháng Tám cịn cĩ những tác phẩm thực sự sáng giá là phĩng sự Cai (Vũ Bằng in báo 1940 in sách 1944) Nợ văn (Lãng Tử Thúc Tề 1941) và tập bút ký Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam 1943). Thực tế tác phẩm Cai cũng cĩ thể gọi là tiểu thuyết phĩng sự hoặc truyện ký mà khơng sai bao nhiêu. Trong tác phẩm này cĩ cả một cốt truyện tình yêu bi hài cĩ cả những trang miêu tả diễn biến tâm lý sinh động về kẻ nghiện cĩ cả những ghi chép chi tiết về nạn thuốc phiện và đan xen thêm cả hình thức ghi chép nhật ký. Trong chiều hướng chung nhất cĩ thể xem đây là thiên phĩng sự đặc sắc phong phú bậc nhất viết về tệ nạn nghiện hút dưới thời thực dân phong kiến. Phĩng sự Nợ văn của Lãng Tử Thúc Tề đi sâu mơ tả đời sống giới văn bút trong muơn mặt đời thường ở đất báo Sài Gịn. Cịn lại Hà Nội băm sáu phố phường là tập bút ký chủ yếu tái hiện cuộc sống con người và quang cảnh phố phường Hà Nội ở những khía cạnh truyền thống văn hố dân tộc vẻ hào hoa thanh lịch với những biển hàng những phố đẹp những hiệu cao lâu - và đặc biệt là cuộc tổng kiểm kê và trình diễn các mĩn quà mang đầy hương vị Hà Nội ngàn năm. Cĩ thể xem đây là áng văn trong sáng đầy thi vị của một tinh thần duy mĩ một tấm lịng tha thiết mến yêu quê hương đất nước gĩp phần làm nên sự phong phú của thể ký đương thời.  

Bên cạnh các tác phẩm tiêu biểu nĩi trên cịn cĩ nhiều trang ghi chép ngắn gọn của nhiều tác giả khắp trong Nam ngồi Bắc chủ  yếu in báo trong đĩ nổi bật nhất là thể tài du ký. Đến lúc này du ký phân nhánh thành nhiều cụm chủ điểm như khảo cứu phong tục đi thăm di tích lịch sử nơi danh lam thắng cảnh du ngoạn bằng đường khơng đường bộ tàu hoả tàu thuỷ. Ở đây cĩ nhiều trang ghi chép khá sâu sắc chi tiết về văn hố học dân tộc học như Tam Lang với Một ngày ở xứ Chàm (Tri tân 1941); Biệt Lam Trần Huy Bá với lữ ký Ban Mê Thuột (Tri tân 1942) Hai tháng ở gị Ĩc Eo hay là câu chuyện đi đào vàng (Tri tân 1944-1945); Nhật Nham Trịnh Như Tấu với Sau tám năm trở lại thăm Laokay Từ Hà Nội đến hồ Ba Bể (Tri tân 1942); Mãn Khánh Dương Kỵ với Indrapura - Đồng Dương Thiên YANA (Tri tân 1943)(18); Thái Hữu Thành với Giống Mọi ở Đồng Nai thượng 15 ngày với Mọi cĩ đuơi Mọi Xà Niên Ngải Mọi ở Đồng Nai thượng (Nam Kỳ tuần báo 1943-1944)... Đồng thời nhiều địa danh lịch sử và danh thắng như Hạ Long Yên Tử Kiếp Bạc Cát Bà Hoa Lư Sầm Sơn Huế Đà Lạt Bà Nà Ngũ Hành Sơn Hà Tiên Phú Quốc... đều đã được miêu tả lại khá sinh động chi tiết. Dù khơng trực diện phản ánh cuộc đấu tranh xã hội đương thời song chính mảng văn du ký cũng gĩp phần nâng cao nhận thức và niềm tự hào dân tộc mở rộng hơn nữa dung lượng hiện thực và tầm bao quát sâu rộng đa diện của thể ký đương thời.  

 

Nhìn lại chặng đường phát triển của thể loại ký Việt Nam từ  đầu thế kỷ đến 1945 chúng ta khơng khỏi ngỡ ngàng trước những bước tiến vượt bậc cả về đội ngũ sáng tác phạm vi đề tài nội dung và nghệ thuật thể hiện. Khác với phong trào Thơ mới và kiểu sáng tác kịch truyện ngắn tiểu thuyết cịn in đậm dấu nét giao lưu tiếp nhận ảnh hưởng văn học phương Tây thì bản thân các thể tài ký lại mang tính nội sinh hết sức rõ nét. Điều này cĩ lý do trước hết bởi các thể tài ký cĩ phương thức thể hiện chủ đạo là ghi chép gần với phong cách thơng tin người thật việc thật của báo chí. Do đĩ các đề tài và nội dung hiện thực phải là con người và sự kiện đang diễn ra ở Việt Nam chứ khĩ cĩ hình thức mơ phỏng tiếp nhận cốt truyện ký ở nước ngồi vào Việt Nam. Sau khoảng một thập kỷ tập dượt phải sang những năm ba mươi thì các thể tài ký mới cĩ bước phát triển vượt bậc. Với tư cách là dịng chủ lưu của thể ký các tác phẩm phĩng sự với trang viết khởi đầu là Tơi kéo xe (1932) đã đĩng một vai trị đặc biệt trong nền văn xuơi trước Cách mạng tháng Tám. Nhìn chung các thể tài văn học ký đã phản ánh đầy dủ mọi khía cạnh bức tranh đời sống xã hội ở một giai đoạn lịch sử phức tạp và đầy biến động. Đĩ cũng đồng thời là con đường tự định hình hồn chỉnh dần các đặc điểm thể loại và xây dựng được nhiều tác phẩm xuất sắc cĩ đĩng gĩp tích cực vào tiến trình phát triển chung của nền văn học hiện đại./  

_____________  

(1) Tham khảo: - Hồng Ngọc Hiến: Ký và tiểu luận (et-xe) trong sách Năm bài giảng về thể loại. Trường Viết văn Nguyễn Du xuất bản H 1992. Tái bản. Nxb. Giáo dục H 1999; tr.5-24.

(2) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại Quyển ba. Nxb. Tân Dân H 1942. Tái bản Tập I. Nxb. Khoa học xã hội H 1989; tr.413.

(3) Nguyễn Khắc Xuyên: Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong 1917-1934. Trung tâm Học liệu - Bộ Văn hố- Giáo dục ấn hành Sài Gịn 1968; tr.33. Tái bản. Nxb. Thuận Hố Huế 2002 tr.34.

- Xin xem Du ký Việt Nam - Nam phong tạp chí (1917-1934) ba tập (Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm giới thiệu). Nxb Trẻ TP Hồ Chí Minh 2007; 1918 trang.

(4) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại Quyển ba. Nxb. Tân Dân H 1943. Tái bản Tập I. Nxb. Khoa học xã hội H 1989; tr.514.

(5) Lê Thị Đức Hạnh: Thể phĩng sự và văn châm biếm của Tam Lang. Tạp chí Văn học số 8-1998; tr.58.

(6) Trương Tửu: Địa vị Vũ Trọng Phụng trong văn học Việt Nam cận đại. Tao đàn số Đặc biệt tháng 12-1939. In lại trong Vũ Trọng Phụng với chúng ta (Trần Hữu Tá sưu tầm biên soạn giới thiệu). Nxb. TP Hồ Chí Minh 1999 tr.144.

(7) Nguyễn Hồnh Khung: Chương XIV - Vũ Trọng Phụng (1912-1939) trong sách Văn học Việt Nam (1900-1945). Tái bản lần thứ ba. Nxb. Giáo dục H 1999; tr.422-450.

(8) (10) (11) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại   Quyển ba. Sđd; tr.559-560 413 415.

(9) Phan Cự Đệ: Chương XVIII - Ngơ Tất Tố (1892-1954) trong sách Văn học Việt Nam (1900-1945). Sđd tr.389-412.

(12) Lê Thanh: Nhìn qua văn học Việt Nam năm 1941. Tạp chí Tri tân số 40 tháng 3-1942. In trong Tạp chí Tri tân (1941-1945) Phê bình văn học (Trịnh Bá Đĩnh - Nguyễn Hữu Sơn sưu tập giới thiệu). Nxb. Hội Nhà văn H 2000; tr.54-55.

(13) Hồng Như Mai: Chặng đường văn học 1940-1945. Tạp chí Văn học số 9-1997; tr.14.

(14) Trịnh Bá Đĩnh - Nguyễn Hữu Sơn: Tạp chí Tri tân và xu thế phục hưng văn hố dân tộc thời kỳ 1941-1945. Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số 9-1998; tr.47-49; In lại trong sách Tạp chí Tri tân (1941-1945) Phê bình văn học. Sđd; tr.7.

(15) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại Quyển IV Tập thượng Nxb. Tân Dân H 1943. Tái bản Tập II. Nxb. Khoa học xã hội H 1989; tr.935.

(16) Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại Quyển IV Tập hạ. Nxb. Tân Dân H 1945. Tái bản Tập II. Nxb. Khoa học xã hội H 1989; tr.1008-1009.

(17) Tiên Đàm: Đọc sách Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp. Tạp chí Tri tân (1941-1945) - Phê bình văn học. Sđd; tr.602-603.

(18) Xin xem Tạp chí Tri Tân (1941-1945) - Truyện và ký (Lại Nguyên Ân và Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm). Nxb Hội Nhà văn H 2000; 884 trang.

More...

Vai trò của giáo lý Thiền tông trong sáng tác thơ Thiền Lý - Trần.

By

Vai trò  của giáo lý Thiền tông

 trong sáng tác thơ  Thiền

Lý- Trần 

 Trịnh Thị Minh Hương

Những giáo lý Thiền tông rất gần gũi với đạo lý dân Việt nó khuyên người ta sống lương thiện ngay thẳng chân thật tốt đạo đẹp đời… Vì thế dù yếu chỉ Thiền tông có quan niệm “bất lập văn tự giáo ngoại biệt truyền” thì vô hình chung những giáo lý ấy cũng trở thành một trong những đối tượng chính của một mảng lớn văn học thời Lý-Trần đặc biệt trong thơ thiền.

Tư tưởng Phật giáo nói chung và giáo lý Thiền tông nói riêng là tư  tưởng hướng nội hướng về con người với  đời sống tâm linh tìm cách giải thoát con người ra khỏi cuộc đời đầy khổ ải đắng cay. Thiền tông rất chú trọng cái tâm tâm yên lặng lắng đọng. Và để đạt đến chân như niết bàn đạt đến Phật tính trong phương pháp tu hành Thiền tông đề cao trực giác trực cảm- xem đây là một trong những con đường chủ đạo để đốn ngộ chân lý đồng thời cũng luôn đặt ra vấn đề bản thể và giải thoát.      

  1. Kiểu tư duy Thiền học trong sáng tác

Giáo lý Thiền tông rất  độc đáo nó không muốn người học va vào ngôn ngữ  bên ngoài cũng không rơi vào tâm suy lự bên trong. Trực giác quan trọng hơn logic sự đốn ngộ bên trong quan trọng hơn những hiểu biết thu nhận từ người khác. Trực giác là năng lực nắm bắt trực tiếp chân lý không cần lập luận logic trước. Tư duy Phật giáo Thiền tông khai thác tận cùng các yếu tố thuộc về tâm chứ không đơn thuần chỉ là sự tìm hiểu để khai thác về mặt tâm lý xã hội. Trực giác là sự kết hợp đặc biệt thuận lợi các liên tưởng ấn tượng để tạo ra phát hiện tức thời như ánh chớp và đạt được sự uyên thâm.

Trong tư duy nghệ thuật trực giác đóng vai trò rất quan trọng để nhận thức cái thẩm mỹ trong đời sống. Trực giác trong văn học là những phán đoán cảm tính trực tiếp tức thời không có suy lí và không thể chứng minh nhưng là một hoạt động của trí tuệ (1) Trực giác là yếu tố thường tại của tư duy nghệ thuật. Bên cạnh trực giác tư duy nghệ thuật cũng vận dụng thêm các yếu tố khác như cảm giác xúc giác tri giác và cả nhận thức lí tính bởi tư duy nghệ thuật là kiểu tư duy mang tính tổng hợp nhưng trực giác vẫn là yếu tố hàng đầu của người nghệ sĩ.

Trong tư duy Phật giáo Thiền tông nét chủ đạo nằm ở kích thước của sự không lời (sự vô ngôn). Tư duy ấy chứa đựng bên trong sức sống mãnh liệt thu phục lòng người từ chiều sâu của sự cảm thụ và tâm thức. Văn chương cũng đi vào lòng người bằng con đường ấy. Đây là sự gặp gỡ giữa tâm thức Thiền và tâm thức văn chương. Không có kiểu tư duy này người nghệ sĩ khó lòng nắm bắt được cái thần cái hồn của đối tượng. Hình ảnh cành mai trong thơ Mãn Giác đã đạt đến tinh thần tuyệt diệu đó!

  •  
    •  

        Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

  •  
    •  

        Đình tiền tạc dạ nhất chi mai (2)           

(Cáo tật thị chúng)

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

  •  
    •  

        Đêm qua xuân trước một nhành mai.      

(Ngô Tất Tố dịch)

Câu thơ chuyển tải quy luật luân hồi tuần hoàn của tự nhiên cuộc đời. Thiền sư đã đúc kết được rằng sống chết là một qui luật tất yếu nhưng  nhờ giác ngộ chân lý mà nhà sư vượt khỏi vòng sinh tử luân hồi đạt đến chân nhân. Trước sân thì sẽ có một cây mai hoặc mấy cành mai thế nhưng vẫn chỉ là một nhành. “Nhất chi mai” là cái gì đó đã vượt ra ngoài giới hạn của cân đo đong đếm. Cách nhìn của người đời theo hiện tượng nên sự quan tâm chỉ giới hạn trong một chu kì của một vòng đời hiện tượng. Người đời muốn níu giữ một mùa xuân để còn mãi một mùa hoa. Nhưng giả sử mùa xuân dừng lại thì mọi vật trong mùa xuân đó đều dừng lại không phát triển. Như vậy muôn vàn mùa hoa kế tiếp sẽ không phát triển được nữa. Cách nhìn theo hiện tượng này chỉ thấy được cái biểu hiện bên ngoài mà không thấy được bản chất quy luật tồn tại và vận động bên trong hiện tượng và sự vật ấy. Theo cách nhìn này thì mọi sự vật hiện tượng đều sẽ kết thúc (kết thúc trong hiện tại lẫn tương lai). Vì thế con người sẽ không tránh khỏi đeo mang những nỗi buồn sầu thiên cổ… Với cách nhìn của nhà sư đã tu hành đốn ngộ Mãn Giác nhận ra được mối quan hệ tiếp nối thay thế nhau giữa các hiện tượng. Theo quan niệm của đạo Phật mọi sự vật đều có quan hệ nhân quả hoa tàn sẽ kết quả quả chín rụng sẽ nảy mầm mầm phát triển thành cây cây lớn lên sẽ lại đơm hoa kết quả. Như vậy trong sự tàn lụi của hiện tượng trước sẽ nảy sinh sự sống cho hiện tượng sau. Và Thiền sư Mãn Giác đã nhìn các sự vật hiện tượng theo bản chất mang tính biện chứng nhận ra sự sống tiềm ẩn vĩnh tồn và liên tục phát triển trong lòng mọi vật nên sẽ đón nhận niềm vui bất diệt và sự sống vĩnh hằng. Bởi vì trong qui luật vận động và thay thế con người cũng không ngoại lệ vì thế Thiền sư nhắc nhở mọi người: đừng tưởng xuân tàn thì hoa sẽ rụng hết mà hãy xem kìa đêm qua một nhành mai đã nở trước sân. Lời nhắn nhủ nhẹ nhàng ấy thể hiện một cái nhìn “đốn ngộ” một sự minh triết về bản chất sự vật của một trí tuệ siêu việt. Đó là lúc thi sĩ Thiền đạt được giây phút thăng hoa tinh thần trong trẻo và hồn nhiên nhất đó là lúc giải thoát khỏi mọi ràng buộc của nghiệp chướng giây phút viên mãn tột độ của tâm thức Thiền mà người tu hành gọi là trạng thái “nhất tâm” (eka-gia).

Trong yếu chỉ Thiền tông có một phương pháp dùng để đốn ngộ đệ tử là quát tháo. Sự quát tháo được sử dụng khi thầy nhận thấy Phật tâm của đệ tử đã chín mùi đủ khả năng giác ngộ. Với  ý nghĩa này phải chăng tiếng kêu vang của Không Lộ Thiền Sư là một khát vọng phi thường giác ngộ vũ trụ để cả cõi thái hư tràn ngập không khí Thiền để khắp nơi đều nhuốm màu Thiền?   

  •  
    •  

        Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh

  •  
    •  

        Trường khướu nhất thanh hàn thái hư.

(Ngôn hoài)

  •  
    •  

        Có  khi xông thẳng lên đầu núi

  •  
    •  

        Một tiếng kêu vang lạnh cả  trời.

(Kiều Thu Hoạch dịch)

Cái “tiếng kêu vang”  là biểu hiện sự sống và cho thấy sự  đối diện giữa cá thể (con người) và bản thể (vũ trụ).  Hơi thở của cá thể đi vào trong vũ trụ mà cảm nhận được vũ trụ lạnh đi đó là cảm nhận trong trạng thái “đốn ngộ” cảm nhận được sự tinh vi nhất của vũ trụ bao la. Từ đó nhà thơ nhận ra sự sống luôn luôn chuyển hoá thay đổi hình dạng mà trở nên vĩnh tồn.

Khi các Thiền sư đã nắm rõ được quy luật chuyển hoá của các hiện tượng họ đã sống có ý thức với quy luật đó khiến lòng trở nên thanh thản vững vàng không còn điều gì sầu muộn nữa. Câu thơ giải thích sự đốn ngộ trong tu Thiền bằng những hình ảnh dung dị mà kì vĩ hợp lý và dễ hiểu như hơi thở hoà vào khí vũ trụ mà trường tồn. Như vậy cái tiếng kêu sang sảng lạnh cả thái hư là tiếng kêu sảng khoái của một tâm hồn khoáng đạt là phút giây dùng trực giác để con người hoà nhập vào đại ngã của vũ trụ. Đặng Thai Mai gọi tiếng kêu đó là “cảm hứng đạo học”. Có thể nói rằng phép tu hành trong Thiền tông là một quá trình lao động trí tuệ một cách nghiêm túc tích tụ đủ “lượng” để đến một thời điểm “lượng” kia biến đổi thành “chất” nhà tu hành đạt được sự đốn ngộ hiểu ra điều vi diệu của đạo Phật bằng phút giây trực giác trực cảm. Con người có sống với đạo hành đạo trọn đời chiêm nghiệm đạo thì mới có thể trực cảm đạo là gì mới có sự quân bình giữa tâm và trí thấy được bản thể của chân như.

Bằng lối suy nghĩ khoáng đạt và phương pháp “dĩ tâm truyền tâm”   “trực chỉ nhân tâm” mà các Thiền sư Lý- Trần có sự quân bình giữa tâm và trí thân ở cuộc đời mà tâm hướng về đạo thanh thản an nhiên tự tại. Làm vua mà có thể lìa bỏ ngai vàng dễ dàng như trút bỏ chiếc giày rách (Trần Thái Tông) có thể coi ngôi cao lộc cả là của chung anh em thân tộc (Trần Thánh Tông) dám tin dùng tuyệt đối con của kẻ thù từng thù nghịch mình (Trần Nhân Tông) là Phật tử nhưng không theo gót mòn của Như Lai (Thiền sư Quảng Nghiêm) …

Tóm lại Thiền tông lấy tâm làm căn nguyên cội nguồn cho sự tu hành và mục tiêu của sự giải thoát là chứng ngộ. Để đạt được tâm trống không Thiền sư phải chiêm nghiệm lược bỏ cái nhìn nhị nguyên phát hiện quy luật chuyển hoá vận hành của vũ trụ cuộc đời con người. Trong văn chương nghệ thuật trực giác cũng là một yếu tố quan trọng. Hạt giống tâm thiền đã gặp được mảnh đất màu mỡ phù hợp nên đã phát triển tốt tươi. Kiểu tư duy Thiền học đã chi phối mạnh trong sáng tác văn học thời Lý- Trần đặc biệt là thơ thiền.           
 

  2 Cảm hứng về bản thể luận

Theo Tự điển Phật học bản thể là căn bản tự thể của các pháp; mà pháp là từ chỉ chung hết thảy mọi sự vật hiện tượng dù là to nhỏ hữu hình vô hình chân thật hư vọng sự vật cũng là vật đạo lý cũng là vật tất cả đều là pháp cả. Kinh Hoa Nghiêm viết rằng: Thế giới bản thể gọi là lý pháp giới thế giới hiện tượng gọi là sự pháp giới”. Đây chính là tinh thần “Nhất đa tương dung lý sự vô ngại tương nhập tương tức” (một và nhiều dung hợp nhau nguyên lý và sự vật cũng như vạn sự vạn vật không có gì làm trở ngại nhau cái này có thể nhập vào cái kia cái kia cũng tức là cái này).

Như vậy cái chính bản thân sự vật vốn có là cái bản chất tối sơ nguyên thủy khởi nguồn của các pháp mà pháp bao gồm toàn bộ thế giới sự vật hiện tượng và con người; toàn bộ thế giới thực tướng và giả tướng hữu hình và vô hình. Bản thể ấy là bản thể chân như và các dạng thức tồn tại biểu hiện ra muôn màu muôn vẻ của các pháp.

Dù dùng nhiều thuật ngữ  khác nhau nhưng các Thiền phái thời Lý- Trần đều thống nhất với nhau một điểm: bản thể và thế giới hiện tượng không tách rời nhau chúng như nước và sóng sóng từ nước mà ra rồi trở về với nước sóng cũng là nước trên bề mặt thì nước cũng là sóng. Bản thể biến thành hiện tượng vạn hữu cũng như nước biến thành sóng. Bản thể không thể nhìn thấy không đến không đi không hình không tướng không bóng không sắc… nhưng có ở khắp mọi nơi trong mỗi con người.

Bản thể cũng chính là  chân tâm vì thế nó nằm trong thế giới trần tục nhưng người thường không biết lại cứ  tìm đâu đâu. Vì thế trong bài kệ đáp lời sư Đạo Hạnh Kiều Trí Huyền cho rằng:

  •  

      Hà  sa cảnh thị bồ đề  đạo

  •  

      Nghĩ  hướng bồ đề cách vạn tầm

(Đáp Từ Đạo Hạnh chân tâm chi vấn)

  •  

      Cát sông là cõi bồ đề  đó

  •  

      Mà  tưởng còn xa mấy dăm nghìn.

(Ngô Tất Tố dịch)

Trong sự hỗn mang của bụi  đời bản thể tồn tại; trong từng hạt cát bé nhỏ dưới chân bản thể hiện hữu. Bản thể không nằm ở một vương quốc mây mù trừu tượng nào không là một cái gì cao xa to lớn. Người có tâm Thiền sẽ thấy ra điều đó còn người có tâm tục lại cứ tưởng bồ đề ở xa xôi mấy ngàn dặm. Thật ra tâm Thiền khi đã được giác ngộ thì bản thể thần diệu ấy vốn là hư vô ngày ngày vẫn biểu hiện phơi bày. Nó như làn gió ôn hòa thổi dậy khắp thế giới sa bà thế giới hiện tượng (ý thơ của Thiền sư Chân Không).

Bản thể tồn tại khắp mọi nơi nên cũng sẽ tồn tại trong mỗi con người. Chẳng cần tìm Phật ở đâu xa Phật ở ngay trong tâm mình trong lòng mình nên bản thể còn được mô tả một cách bóng bẩy hình ảnh như hòn minh châu tồn tại trong mỗi con người nhưng do vô minh tham sân si mà con người không biết điều này cũng giống như lão nhà giàu có con ngựa quý hiếm mà không biết lại đi bộ. Ý tưởng này đã được Từ Đạo Hạnh chuyển tải trong bài thơ:

  •  

      Nhật nguyệt tại nham đầu

  •  

      Nhân nhân tận thất châu

  •  

      Phú  nhân hữu câu tử

  •  

      Bộ  hành bất kị câu.

(Thất châu)

  •  

      Nhật nguyệt tại non đầu

  •  

      Người người mất ngọc châu

  •  

      Kẻ  giàu có ngựa tốt

  •  

      Chẳng chịu dùng ngựa đâu.     

(Ngô Tất Tố dịch)

Trong cuộc sống hàng ngày mỗi người phải vật lộn để kiếm sống mải mê  bon chen trong cuộc đời vì những sắc màu phù  phiếm của nhân gian mà quên đi cái quý nhất của đời mình. Hạt ngọc châu đại diện cho Phật tính trong lương tâm con người bị những lớp bụi “vô minh” che lấp. Ngày qua ngày thời gian cứ trôi và nhịp sống cứ chảy những lớp bụi vô minh càng được phủ dày. Hình ảnh ẩn dụ “lão nhà giàu có con ngựa quý lại đi bộ” vừa buồn cười vừa đáng thương cho người trần tục bị “vô minh” và “tam độc” vây hãm. Muốn thoát khỏi “vô minh” để trực nhận bản thể phải hướng vào trong chứ không thể hướng ra ngoài mỗi người phải tự quay về thắp lên ngọn đuốc của chính mình. Với lí do đó Thiền tông chủ trương “phi hữu phi không diệc hữu diệc không” (chẳng có chẳng không vừa có vừa không). Người tham Thiền phải thấy được trong hữu trong sắckhông trong hiện tượng có bản chất. Thấy được như thế sẽ đạt được cái tâm không phân biệt tâm bình đẳng. Lúc này chúng sinh và Phật đều như nhau “Phật và chúng sinh vốn cùng một bộ mặt lông mày ngang lỗ mũi dọc mà thôi” (Ý thơ Tuệ Trung).  Trong kinh Kim Cương cũng nói rằng: nếu lấy sắc tìm ta lấy âm thanh kiếm ta thì đó là người đi theo con đường tà đạo không thể thấy được Như Lai (Nhược dĩ sắc kiến ngã dĩ âm thanh cầu ngã thị nhân hành tà đạo bất năng kiến Như Lai). Phật tính có trong mỗi chúng sinh phật tại tâm-  “Bụt ở trong nhà chẳng tìm đâu xa”. Trần Nhân Tông khuyên chớ chạy hỏi Đông Tây Nam Bắc mà hãy nhìn lại tự tâm

  •  

      Tam thiên pháp môn quy phương thốn

  •  

      Hà  sa diệu dụng tại tâm nguyên

  •  

      Sở  vị giới môn định môn tuệ  môn

  •  

      Nhữ  vô phiếm thiếu ứng phản tự  tư.

(Hồi tâm)

  •  

      Ba ngàn pháp môn đều ở trong gang tấc

  •  

      Hằng hà  diệu dụng có sẵn ở  nguồn tâm

  •  

      Nếu giới môn định môn tuệ môn các vị  đã có đủ rồi

  •  

      Thì  hãy nhìn lại tự tâm.

Quan điểm “hồi tâm”  này của Phật giáo còn chỉ ra rằng: cái tâm của mỗi chúng sinh có hai đường: một là quay về gia hương trở về nhà (bản thể bản lai diện mục) từ đó vào niết bàn; hai là cứ theo đà vô minh ham muốn khát vọng tham- sân- si để đi vào địa ngục.

Trở lên đã nói cái tâm là Phật nhưng không phải cái tâm vô minh mà  là cái tâm đã giác ngộ. Đối với những người có tâm giác ngộ thì chẳng còn tính với pháp Phật với tâm. Đạt đến quả vị Phật sẽ không đến vị Phật nào cả bởi vì Phật cũng chỉ là danh hiệu. Đạt đến cái tâm không tâm tức là tâm vô tâm. Cho nên Phật hay pháp tính cũng chỉ là phương tiện vấn đề là chứng ngộ. Đây là tư tưởng chung của Phật giáo cũng như tư tưởng chủ đạo của Thiền tông thời Lý- Trần. Nhờ tư tưởng này mà thời Lý- Trần phát triển rực rỡ ở mọi phương diện dù nền chính trị có sự tham gia của tôn giáo.

Vấn đề thứ hai trong bản thể luận là thế giới hiện tượng nó được các Thiền sư thể hiện từ khởi điểm sắc- không đến vạn vật nhất thể nhận thức thực tướng và giả tướng để đạt đến chân như và niết bàn. Họ xem thế giới hiện thực khách quan mà con người đang sống là giả tướng. Cái mà con người trông thấy dù đang hiện hữu dù có thực chẳng qua là vọng kiến sinh ra. Chúng hiện hữu đó nhưng không có thật. Vạn vật vạn sự kể cả con người đều là vô thường. Nhà sư Vạn Hạnh đã ví đời mình như ánh chớp như cảnh tươi héo của cây cối như cuộc đời thịnh suy như giọt sương mai trên đầu ngọn cỏ:

  •  
    •  

        Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

  •  
    •  

        Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

  •  
    •  

        Nhậm vận thịnh suy vô bố  uý

  •  
    •  

        Thịnh suy như lộ thảo  đầu phô.

(Thị đệ tử)

  •  
    •  

        Thân như bóng chớp có rồi không

  •  
    •  

        Cây cối xuân tươi thu não nùng

  •  
    •  

        Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ  hãi

  •  
    •  

        Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.

(Ngô  Tất Tố dịch)

Thiền sư chỉ coi cái thân là ánh chớp thì thịnh suy bám vào cái thân  ấy càng trở nên bé nhỏ đến vô nghĩa. Thịnh suy được nhà sư ví như hạt sương trên đầu ngọn cỏ. Hạt sương buổi sớm mai trên  đầu ngọn cỏ long lanh rất đẹp nhưng khi mặt trời rạng rỡ là lập tức tan. Khi thịnh suy còn ngự trị trong lòng chúng sinh thì nước mắt chúng sinh tràn đầy biển cả. Vì thịnh suy là căn nguyên của mọi sầu tủi khổ đau của kiếp người. Nếu người học đạo nhận thức được quy luật sinh hóa vô thường của vạn pháp thì sẽ đạt tinh thần “vô uý” “nhậm vận” và “lý sự vô ngại”.

Nguồn gốc của những rường mối mọi cái trong thế giới hiện tượng này là  do phân biệt kén chọn tạo ra cái nhìn nhị kiến. Nếu từ bỏ nhị kiến tức không còn đối đãi phải trái trên dưới trước sau tốt xấu lành dữ thiện ác… thì làm gì còn phân biệt kén chọn nữa. Nhưng suy cho cùng thì nhị kiến vọng niệm cũng chính là vô minh. Hay nói khác hơn đây là tư tưởng xem sự vật là vô thường của Phật giáo “cát bụi rồi sẽ trở về cùng cát bụi”. Mọi sự vật hiện tượng đều biến đổi sự biến đổi vô cùng nhanh chóng. Vì thế Giác Hải Thiền sư xem sống hay chết là quy luật tuần hoàn của tự nhiên như xuân đến hoa bướm đua nhau xuất hiện xuân qua tất cả đều mất vì đó chỉ là giả tướng huyễn ảo con người đừng bận tâm:

  •  
    •  

        Xuân lai hoa điệp thiện tri thì

  •  
    •  

        Hoa điệp ưng tu cộng ứng kì.

  •  
    •  

        Hoa điệp bản lai giai thị huyễn

  •  
    •  

        Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.

(Hoa điệp)

  •  
    •  

        Xuân sang hoa bướm khéo quen thì

  •  
    •  

        Bướm lượn hoa cười vẫn đúng kì

  •  
    •  

        Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo

  •  
    •  

        Thây hoa mặc bướm để lòng chi.

(Ngô Tất Tố dịch)

Vòng luân chuyển của trời  đất cứ liên tục vận hành. Mỗi một sự vật hiện tượng đều đảm nhận một mắc khâu vai trò  trong sự vận hành chung của vũ trụ. Nó vận hành theo quy luật của nó không phụ thuộc vào ý muốn suy nghĩ và sự phán đoán của con người. Và khi Thiền sư nhận thức được điều này sẽ có thái độ ung dung không hoảng hốt không lo âu thậm chí cả khi thói đời thay đổi giống như đám mây trời.

Thế giới hiện tượng là  kết quả tạo tác của dòng nhận thức nên vạn pháp đan bện vào nhau rắc rối như sắn bìm bụi cỏ chúng sinh sinh hoá hoá dời đổi vô thường. Thế giới hiện tượng có đấy nhưng không thật giống như giấc chiêm bao vừa hư vừa thực. Hư ở chỗ nó không thật không thể xác định được tính hiện thực của nó. Còn thực ở chỗ nó đã tồn tại dù chỉ như một giấc mơ với tất cả hình danh sắc tướng. Thế giới hiện tượng trói buộc con người trong vòng luẩn quẩn của nhận thức chồng chất thêm những mê lầm buộc con người phải lao đao điên đảo chạy tìm Phật tổ ở khắp nơi. Thiền tông không bác bỏ tính hiện thực của thế giới hiện tượng song cũng không cho rằng nó có tính chân thực bền vững bất biến. Thế giới hiện thực mù mờ ảo ảo nhưng người vô minh cứ tưởng là thực. Họ giống như chú bướm si nhìn hạt móc tưởng mật hoa giống con chim khát tưởng ánh sáng ban đêm là nước:

  •  
    •  

        Cam lộ lưu phương sĩ điệp tỉnh

  •  
    •  

        Dạ  quan lưu thủy khát cầm sầu.

(Tảo mai I- Trần Nhân Tông)

  •  
    •  

        Đêm ngỡ nước trong chim cháy cổ

  •  
    •  

        Sương lùng hương ngát bướm tan mơ.

(Trần Lê Văn dịch)

Thế giới tự nhiên khi chưa hiểu rõ bản chất của nó còn kẹt trong quan niệm “ Có –Không” thì con người vẫn bị lôi cuốn vào thế giới hiện tượng đó. Nhưng đã đạt đến cái tâm tĩnh lặng nắm bắt được cái bản chất của vạn pháp con người trở nên ung dung tự tại chẳng cần “có” và “không”. Cuối cùng tự tính hay pháp tâm hay phật phàm hay thánh đồng nhất hay khác biệt do chính cái tâm con người quyết  định. Tâm tĩnh lặng thì tất cả là một tự nhiên như nhiên còn tâm sai biệt thì ngay lập tức xuất hiện thế giới hiện tượng sai biệt. Khi diệt được vô minh thì thiên sai vạn biệt biến mất. Chỉ cần quay về tâm để mọi cách biệt được san bằng thì lúc ấy cảnh giới niết bàn cũng chính là nơi mình đang sống.

Như vậy vấn đề bản thể luận là một trong những vấn đề trọng tâm của triết  học Thiền tông thời Lí –Trần. Các Thiền sư đã chuyển tải vấn đề bản thể vào thơ thiền để thể hiện niềm say mê đạo giác ngộ chân lý và minh giải cho đồ đệ. Thái độ chung của các Thiền sư thời kỳ này là một thái độ sáng suốt can đảm chấp nhận cái hiện có nhưng không xem nó là vĩnh hằng: từ thế giới hiện tượng hữu hình Thiền sư thâm nhập và hiểu được thế giới bản chất vô hình. Đây là một vấn đề rất cao siêu sâu rộng và trừu tượng phức tạp tưởng như khó lý giải cho rành mạch lại được các nhà sư diễn đạt bằng những hình ảnh ẩn dụ lôi cuốn để làm sáng tỏ và bừng vỡ ý nghĩa cốt lõi giữa bản chất và hiện tượng. Bản chất là cái tồn tại vĩnh cữu ở dạng tiềm ẩn là “chân như” là “không”; còn hiện tượng là cái tồn tại có giới hạn hữu hình là “giả tướng” là “sắc”. Dù hiện tượng có đa dạng nhưng bản chất chỉ là một mà thôi.   

      3. Cảm hứng về giải thoát luận

Đồng thời với việc xác định kiến giải những quan niệm về bản thể các Thiền sư thi sĩ còn đề cập tới vấn đề tu chứng và giải thoát. Trong một chừng mực nào đó có thể xem đây là mối quan tâm chủ yếu bởi lẽ dù có đi sâu biện giải các ý niệm khái quát cao siêu trừu tượng về bản thể thì rốt cuộc họ vẫn phải trở về với cuộc đời thực đối diện với nhiệm vụ thực hành tôn giáo. Con đường tu chứng và giải thoát đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho Phật giáo Thiền tông khiến nó trở nên phổ cập gần gũi đời thường và có một sức sống lâu bền.

Theo Từ điển Phật học Giải thoát là lìa bỏ mọi trói buộc phiền não hữu lậu để thoát ra khỏi khổ quả của tam giới đạt đến chỗ tự tại chân như giác ngộ. Nói cách khác đó là con đường từ bỏ cái ngu tối mê muội lầm lạc của thế tục để vươn tới giác ngộ về cõi vĩnh hằng.

Trên con đường tu chứng để tìm đến giải thoát các Thiền sư phải hướng nội đạt tới giải thoát nội tâm. Theo quan niệm Phật giáo “tâm” vừa là nguồn gốc tạo tác vừa là chủ thể tiếp nhận tri giác về thế giới. Vì thế Thiền sư Thường Chiếu trong giới hạn cụ thể đã xác định mối liên hệ giữa thân và tâm diễn đạt khả năng huyền diệu và bất định của “tâm” với tư cách là một thực thể:

  •  
    •  

        Tại thế vi nhân thân

  •  
    •  

        Tâm vi Như Lai tạng

  •  
    •  

        Chiếu diệu thả vô phương.

  •  
    •  

        Tầm chi cánh tuyệt khoáng.

(Tâm)

  •  
    •  

        Thân chiếc bóng trên trời

  •  
    •  

        Tâm kho báu Như Lai

  •  
    •  

        Không phương nào không sáng

  •  
    •  

        Tìm kiếm bặt tăm hơi.

(Huệ Chi dịch)

Chính tinh thần hướng nội tự suy nghiệm tự thanh lọc nên Thiền sư dễ dàng tự mình giác ngộ và giác ngộ cho người. Nhà sư đã khuyên mọi người tìm về bản thân mình không truy cầu sắc không ở bên ngoài thiên giới sẽ trở nên mệt mỏi. Lấy điểm xuất phát từ chữ “tâm” các Thiền sư tập trung phác họa những nẻo tu chứng và giải thoát cho cái tâm đạt đến đốn ngộ ngộ đạo vô vi nhậm vận. Chính vì khởi phát từ chữ tâm nên các Thiền sư có khi đồng nhất tâm với trí huệ (cái tâm đã khai minh).

Và Trần Nhân Tông đã hiểu một cách rất sâu sắc tính chất vô thường ngắn ngủi của cuộc sống con người:

  •  
    •  

        Thân như hô hấp tỵ  trung khí

  •  
    •  

        Thế  tự phong hành lĩnh ngoại vân.

  •  
    •  

        Đỗ uyên đề đoạn nguyệt như trú

  •  
    •  

        Bất thị tầm thường không quá  xuân

(Thị tật)

Thân như hơi thở trong mũi khi hô hấp

  •  
    •  

        Cuộc  đời như đám mây bay theo gío ngoài núi xa.

  •  
    •  

        Chim quyên kêu đã bao ngày tháng

  •  
    •  

        Chớ  để luống qua mùa xuân một cách tầm thường.

Mạng sống con người mong manh như hơi thở không có bền không có thật. Cuộc đời hay thế giới này không bền lâu vững chắc giống như gió thổi mây bay trên đỉnh núi xa kia. Những đám mây trôi không dừng lại một chỗ mây theo chiều gió cứ trôi trôi mãi. Đây cũng là sự diễn tả cái vô thường trôi chảy không dừng. Con người không thể tránh khỏi sinh tử và nhân quả. Không thể tìm ra Niết bàn khi còn quẩn quanh trong sinh tử và nhân quả mà phải ở ngay trong nó để thấu suốt bản tính để nhận ra sinh tử là không sinh không tử. Lúc ấy tự nhiên con người sẽ được giải thoát.

Giới luật đối với các Thiền sư được thể hiện ở việc không tham dục không tham danh lợi tin ở nghiệp lực không chấp. Thiền sư Trí Thiền khuyên mọi người:

  •  
    •  

        Tham dục truất trừ thiên lý  ngoại

  •  
    •  

        Hi di chi lí nhật bao dung.

(Thoát tục)

  •  
    •  

        Đuổi ngoài ngàn dặm niềm ham muốn

  •  
    •  

        Để lẽ huyền vi chứa ở trong.

(Ngô Tất Tố dịch)

Cái vướng mắc nhất đối với người tu hành là tham dục (ham muốn) tham lam của cải vật chất tiền tài danh vọng. Cái đó làm lu mờ tâm tính con người và ngăn cản con người đi đến giác ngộ. Bởi vậy việc đầu tiên khi bước vào con đường tu hành là phải diệt trừ tham dục phải truất trừ ham muốn. Có như vậy thì lẽ huyền vi mới lộ ra Phật tính mới xuất hiện con người đến được Niết bàn.

Bên cạnh đó thuyết luân hồi nghiệp báo cũng được các Thiền sư đề cập đến. Vì có nghiệp báo nên hành giả khuyên mọi người sống có đức cấy phúc gieo duyên. Thiền sư Vạn Hạnh đã thể hiện điều đó trong bài thơ đưa cho kẻ muốn hại mình:

  •  
    •  

        Thổ  mộc tương sinh cấn cạnh câm (kim)

  •  
    •  

        Vi hà mưu ngã uấn linh khâm

  •  
    •  

        Đương thời ngũ khẩu tu tâm tuyệt

  •  
    •  

        Chân trí vi lai bất hận tâm

(Ký Đỗ Ngôn)

  •  
    •  

        Thổ  mộc sinh ra cấn cạnh câm (kim)

  •  
    •  

        Thù  ta toan định sẵn mưu ngầm

  •  
    •  

        Tăng này biết chuyện lòng buồn dứt

  •  
    •  

        Cả  đến mai sau chẳng oán thầm.

(Huệ Chi dịch)

Người tu hành không oán giận không câu chấp chỉ nên sống lặng lẽ thanh tịnh cho nên muốn đi đến giải thoát muốn xuất hiện trí tuệ bát nhã thì phải thanh lọc thân tâm phải giữ giới nghiêm ngặt phải thực hành nếp sống đạo đức mà Phật đã chỉ ra. Giới là phương tiện để đi đến tuệ. Không thể có tuệ mà không có giới. Khi đã có tuệ thì không còn chấp vào giới làm gì. Và như thế Niết bàn sẽ hiện ra rất gần.

Với chủ trương diệt dục tất yếu con người phải ý thức được nguồn gốc của mọi tham dục là cái sắc thân ô  uế của mình.

  •  
    •  

              Như  tư ngoại sức

  •  
    •  

              Chung thị uế căn

(Khoá hư lục –  Trần Thái Tông)

Trang sức bề ngoài như  vậy

  •  
    •  
      •  

          Vẫn là cái gốc nhớp nhơ.

Các Thiền sư Lí –Trần dù phủ nhận giá trị thân xác nhưng không phủ nhận giá trị đời sống mà họ  luôn phấn đấu để đạt đến sự quân  bình: cố gắng diệt trừ tham dục để đạt được sự tự do cho tâm hồn giữ được tinh thần hiện thực để chu toàn bổn phận ở đời. Đó là chủ trương “Phật pháp bất ly thế gian pháp” mà sau này phát triển lên “giải thoát bất ly thế gian” “ hòa quang

More...

Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện ở Nhật Bản.

By

TRUYỆN KIỀU VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN   


Ở NHẬT BẢN
  

 PGS.TS. Đoàn Lê Giang 
 
Trường Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn –  ĐHQG Tp.HCM

 

 Bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Nhật lần đầu tiên nói trên có  tên  là Kim Vân Kiều do NXB. Đông Bảo xuất bản năm 1942 (Chiêu Hòa thứ 17). Bản dịch Truyện Kiều lần thứ hai ra tiếng Nhật là bản dịch công phu hơn đó là bản Kim Vân Kiều do Takeuchi Yonosuke (Ta-ke-u-chi Yô-nô-su-ke) 内  dịch NXB. Kodansha xuất bản 1975. Trước bản dịch Truyện Kiều của Takeuchi hơn 200 năm thì truyện về nàng Kiều đã được dịch ra tiếng Nhật. Tất nhiên bằng con đường khác: con đường từ Trung Hoa từ bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân 清心才人.  

 

CÁC BẢN DỊCH TRUYỆN KIỀU Ở NHẬT BẢN (1)   

Nhà thơ Nguyễn Giang con trai của Nguyễn Văn Vĩnh đưa cho nhà văn Komatsu Kiyoshi (Kô-ma-tsu Ki-yô-shi) tập truyện Kiều bằng tiếng Pháp.  Từ tập sách này Komatsu đã dịch ra tiếng Nhật. Đó là bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Nhật lần đầu tiên.  Komatsu viết :“ Muốn biết rõ tâm hồn của người An Nam thì phải đọc cuốn sách này”(2)    

Bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Nhật lần đầu tiên nói trên có  tên  là Kim Vân Kiều do NXB. Đông Bảo xuất bản năm 1942 (Chiêu Hòa thứ 17). Komatsu từng du học ở Pháp về Nhật ông trở thành nhà nghiên cứu văn học Pháp ông có dịch André Gide André Malraux ra tiếng Nhật. Theo nhà nghiên cứu Vĩnh Sính trong thời gian học ở Pháp Komatsu có đến nghe Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết về vấn đề thuộc địa. Khi Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết  xong thấy có một người da vàng ngồi ở dưới - người ấy là Komatsu Nguyễn Ái Quốc xuống trò chuyện vận động Komatsu tham gia cuộc đấu tranh cho các dân tộc thuộc địa. Tiếc rằng Komatsu không có chí làm cách mạng nên đã từ chối. Nhưng dẫu sao sự việc ấy cũng để lại cho Komatsu một ấn tượng hết sức sâu sắc về một người Việt Nam yêu nước (Tạp chí Xưa và Nay). Mùa thu 1941 Komatsu đến Hà Nội gặp lại Nguyễn Giang bạn cũ ở bên Pháp nhờ đó mà có được bản dịch Truyện Kiều bằng tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh thân phụ nhà thơ Nguyễn Giang. Chúng ta biết rằng Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp từ rất sớm.  Trước khi  in thành sách năm 1942-1943 bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh đã được công bố đến 3 lần:

-Lần thứ nhất trên Notre journal Notre revue từ 1908 đến 1910

-Lần thứ hai trên Đông Dương tạp chí từ 1913 đến 1917

-Lần thứ ba trên L’Annam nouveau năm 1933    

Từ bản dịch Truyện Kiều bằng Pháp văn của Nguyễn Văn Vĩnh Komatsu đã cấp tốc dịch ra tiếng Nhật ngay năm sau-1942- bản  Kim Vân Kiều bằng tiếng Nhật đã được NXB.Đông Bảo xuất bản và phát hành ở Nhật Bản.    

Bản dịch Truyện Kiều lần thứ hai ra tiếng Nhật là bản dịch công phu hơn đó là bản Kim Vân Kiều do Takeuchi Yonosuke(Ta-ke-u-chi Yô-nô-su-ke) 内  dịch NXB. Kodansha xuất bản 1975. Giáo sư Takeuchi sinh năm 1922 ở tỉnh Yamaguchi (phía nam Nhật Bản). Năm 1941 ông tốt nghiệp khoa Pháp văn Trường Ngoại ngữ Osaka. Năm 1957 ông giảng dạy tại Trường Đại học Kita Kyushu (tỉnh Fukuoka) rồi được điều về Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo 外国 để xây dựng bộ môn ngôn ngữ và văn học Việt Nam. Hiện nay ông đã nghỉ hưu. Ông là dịch giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam như: Chinh phụ ngâm Lục Vân Tiên Đoạn tuyệt Hồn bướm mơ tiên…Tất cả những sách này đều được Đại học thư lâm (Daigaku shorin) ấn hành.    

Về cái duyên  đến với Truyện Kiều ông kể: Khoảng năm 1959-1960 ông có được nghe thầy mình Gs.Hatakenaka thuyết trình một báo cáo nhan đề Kim Vân Kiều và văn học thời Edo trong đó có nhắc đến Truyện Kiều của Việt Nam làm ông hết sức chú ý. Khoảng đầu những năm 60 ông có sang Sài Gòn dạy ở Trường sinh ngữ thuộc Đại học Sài Gòn khoảng bốn năm rưỡi. Chính những năm đó ông được giáo sư người Trung Quốc là Diệp Truyền Hoa tặng cho bản Kim Vân Kiều tân truyện bằng chữ Nôm Quan Văn Đường tàng bản (Hà Nội). Bản Kiều Nôm này do thân phụ của giáo sư Diệp Truyền Hoa ở Hội An lưu giữ. Có được bản Truyện Kiều quý trong tay giáo sư Takeuchi  đã sưu tầm thêm những văn bản khác   bản chữ Nôm chữ Quốc ngữ và cả bản bản dịch Pháp văn rồi bắt tay vào dịch ra thơ tiếng Nhật. Ông kể: “ Năm 1962 Truyện Kiều dịch kể như tạm xong. Bây giờ đọc lại thấy nhiều chỗ dịch sai dịch ép nhiều chỗ dịch lạ không phải chỗ nào cũng coi được cả. Sau khi về Nhật giữ cương vị ở Đại học Ngoại ngữ Tokyo hiện nay được sự khích lệ của Giáo sư Matsuyama tôi đã sửa đi chữa lại nhiều lần cuối cùng bản dịch này cũng đã hoàn thành”(3). Năm 1975 nhà xuất bản Kodansha một nhà xuất bản rất nổi tiếng của Nhật xuất bản sách này. Và đó là bản dịch Kim Vân Kiều bằng tiếng Nhật thứ hai.

Truyện Kiều Nàng Kiều
 

    Đến năm 1985 giáo sư Takeuchi lại soạn lại Kim Vân Kiều với bản trích dịch cô đọng hơn chủ yếu dùng để làm tài liệu học tập cho sinh viên. Bản dịch có tên là Kim Vân Kiều tân truyện do Đại học thư lâm  林   (Daigaku shorin) xuất bản. Phía sau cuốn sách có phụ bản chữ Nôm với loại chữ Nôm viết bằng máy tính(4).    

Bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Nhật của giáo sư Takeuchi - bản Kim Vân Kiều do Kodansha xuất bản là công trình dịch thuật rất công phu dày đến gần 400 trang khổ 14 5x20 5. Ông dịch sang thơ Nhật có chú giải kĩ lưỡng từng câu. Giới nghiên cứu sinh viên Nhật Bản cũng như đông đảo bạn đọc quan tâm đến văn học phương Đông quan tâm đến Việt Nam đánh giá rất cao cuốn sách này(5).    

Thế nhưng không phải chỉ ở Việt Nam mới có Truyện Kiều cũng không phải đến nay Nhật Bản mới có bản dịch Truyện Kiều. Trước bản dịch Truyện Kiều của Takeuchi hơn 200 năm thì truyện về nàng Kiều đã được dịch ra tiếng Nhật. Tất nhiên bằng con đường khác: con đường từ Trung Hoa từ bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân 清心才人.

KIM KIỀU TRUYỆN  VÀ  KIM NGƯ TRUYỆN   

Phần trình bày  dưới đây về Kim Vân Kiều truyện ở Nhật Bản chúng tôi dựa chủ yếu vào bài viết Kim Vân Kiều và văn học thời Edo 江戸文学 của Gs.Hatakenaka Toshirô (Ha-ta-kê-na-ka Tô-shi-rô)畠中 敏郎. Bài viết này được viết ra vào cuối những năm năm mươi sau đó được Gs.Takeuchi in ở phần sau bản dịch Kim Vân Kiều của mình (Kodansha 1975).    

Nhật Bản thời Edo (Ê-đô) (thế kỉ 16-19) có cả một trào lưu dịch và phóng tác các tác phẩm văn nghệ Trung Quốc trong đó có Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Bản dịch Kim Kiều truyện (ở Nhật thường lược chữ Vân trong Kim Vân Kiều truyện đi) lần đầu tiên ở nhật Bản là cuốn: Tú tượng thông tục Kim Kiều truyện       dịch vào năm 1763. Toàn truyện có 7 tập 20 hồi được đóng thành 5 quyển. Dịch giả là Nishida Isoku (Ni-shi-da I-so-ku)西 (Tây Điền Duy Tắc ?- 1765) người vùng Omi (nay thuộc tỉnh Shiga gần Kyoto). Oâng là dịch giả của nhiều bộ sách nổi tiếng như: Thông tục Tùy Dạng đế ngoại sử Thông tục xích thằng  kì duyên …. Cuốn Tú tượng thông tục Kim Kiều truyện      của ông là bản dịch xác thực so với nguyên bản. Chữ “thông tục” trong tựa đề có nghĩa là bình dị dễ hiểu với quảng đại quần chúng. Sách nổi tiếng một thời từng được nhiều nghệ sĩ dựa vào để phóng tác cải biên được đưa lên sân khấu Jôruri (tĩnh lưu li) và Kabuki (ca vũ kĩ). Đoạn Tú Bà dạy Kiều về “Bảy chữ tám nghề” đối với nhiều người là rất hấp dẫn nên đã được diễn tả đầy đủ. Cũng cần phải nói thêm trong sách Khánh Trường dĩ lai chư gia trước thuật mục lục (Thư mục sách của các tác giả từ  thời Khánh Trường (1596) cho đến nay) có ghi tên sách Dịch thuyết Kim Kiều truyện 訳説金 12 quyển của Nishida西田 nhưng không biết chắc là đã hành thế hay chưa.    

Mấy chục năm  sau bản dịch Kim Kiều truyện ra đời ở Nhật Bản xuất hiện một cuốn tiểu thuyết phóng tác từ Kim Kiều truyện đó là Phong tục Kim Ngư truyện (gọi tắt là Kim Ngư  truyện) của Kyokutei Bakin (Kyôku-tei Ba-kin) (Khúc  Đình Mã Cầm).    

Kyokutei Bakin(1767-1848) người Edo (Tokyo hiện nay) là nhà văn rất nổi tiếng cuối thời Edo. Oâng là tác giả của nhiều truyện có nội dung “khuyến thiện trừng ác” như các bộ: Thung thuyết cung trương nguyệt 椿 Nam tổng lý bát kiến khuyển truyện Cận thế thuyết mỹ thiếu niên lục 説美少年録. Đồng thời ông cũng là người phóng tác nhiều tiểu thuyết bạch thoại Trung Quốc như: Khuynh thành Thủy hử truyện Tân biên Kim Bình Mai … và một tác phẩm ít được nhắc đến hơn trong sự nghiệp sáng tác của ông là Kim Ngư truyện 金魚傳 phóng tác từ  Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Kim Ngư truyện 金魚傳 của Bakin được viết trong mười năm trời từ 1829 đến 1839. Vì là tiểu thuyết phóng tác nên trong truyện Bakin đã thay đổi toàn bộ bối cảnh thời đại nhân vật từ Trung Hoa thành Nhật Bản. Chẳng hạn như: thời Gia Tĩnh triều Minh thành thời Muromachi (Mu-rô-ma-chi) của Nhật Bản(Tk.14-16). Địa danh nhân vật cũng được “Nhật Bản hóa” triệt để.

Địa danh:

Bắc Kinh   thành  Naniwa (Nan Ba - Osaka ngày nay)

Liêu Dương        Kamakura 鎌倉 (Liêm Thương - gần Tokyo ngày nay)

Lâm Thanh          Akô 赤穂 (Xích Tuệ - thuộc tỉnh Hyôgo gần Kyoto)    

Lâm Truy             Akamagaseki 赤間ヶ関 (Xích Gian Cá Quan)     

 

 

Nhân vật:

Vương Ông   tương đương với  Thuyền Vĩ  Lân Tàng 船尾 鱗蔵

Thúy Kiều                                Ngư Tử 魚子

(Hoa Nô                                     Du nữ tên Phong Diệp 楓葉)

Vương Quan                              Kì Nhị Lang 鰭二郎

Thúy Vân                                   Ất Ngư 乙魚

Kim Trọng                                 Đình Tỉnh Kim Trọng 庭井金重

Từ Hải                                         Hạ Dã  Thái Lang 下野 太郎

Hồ Tôn Hiến                              Quản lãnh Phiến Cốc Triều Hưng                                                                               

  谷   

 

       

      Cốt truyện tính cách nhân vật cũng thay đổi khá nhiều.

       Gia đình người samurai thất nghiệp tên là Thuyền Vĩ Lân Tàng (Vương Ông) có ba người con cô con gái đầu tên là Ngư Tử(Thúy Kiều) vô cùng xinh đẹp. Ông Thuyền Vĩ nuôi cá cảnh do túng thiếu nên phải bán đi một con cá mái rất quý rất đẹp là loại cá Lan đào ba đuôi. Bán rồi ông thấy đau đớn như phải bán chính đứa con của mình ông than thở với vợ: “ Tôi thấy có điềm gở mai sau không chừng mình mất con bé Ngư Tử”. Quả là như vậy. Gia đình gặp tai biến. Nguyên do là Thuyền Vĩ có chơi với một bọn người sau này ông mới biết là trộm cướp. Bọn chúng bị bắt bèn khai  ra ông nên ông bị vạ lây. Nàng Ngư Tử phải bán mình chuộc cha.

      Ngư  Tử không chỉ là người có tình cảm nồng hậu mà còn là người có kiến thức rộng rãi và suy nghĩ  chín chắn. Trong đêm gặp chàng Đình Tỉnh Kim Trọng (Kim Trọng của Kim Vân Kiều) nàng Ngư Tử đã thể hiện  như một hiền nữ.  Khi gặp  Hạ Dã Thái Lang (Từ Hải) Ngư Tử đã cho tiền bọn du thủ du thực để nhờ dò xét xem chàng có phải là người đáng tin cậy không. Khi Hạ Dã Thái Lang khinh suất hòa với Quản lãnh Phiến Cốc Triều Hưng (Hồ Tôn Hiến) thì nàng Ngư Tử hết sức can ngăn. Ngư Tử còn là người phụ nữ gồm đủ cả tiết nghĩa dũng.  Thái Lang bị phản bị giết. Để trả thù cho chồng nàng Ngư Tử đã dũng cảm giết chết Bố Lưu Biện Di  kẻ đã theo kế Quản lãnh đến thuyết hàng Thái Lang rồi được Quản lãnh gả Ngư Tử cho (Bố Lưu Biện Di tương tự như cả hai nhân vật: quan thuyết hàngthổ quan). Sau hành động đó Ngư Tử nhảy xuống sông tự tử. Được cứu sống Ngư Tử (với tên là Diệu Long ) đi tu và không bao giờ trở về với cuộc sống bình thường nữa. Nàng kết am ở Kyoto và trở thành một ni sư danh tiếng. Đình Tỉnh Kim Trọng (Kim Trọng) văn võ toàn tài có công cứu con trai Tướng quân Túc Lợi Nghĩa Tình 足利 (Ashikaga Yoshiharu) khi người này bị tàn quân Thái Lang tập kích. Nhờ công tích ấy Đình Tỉnh Kim Trọng được gia đình Tướng quân vời về dưới trướng trọng dụng. Đoạn tái hồi Kim- Ngư cả hai đều không hề hé môi nói gì về lời thề ước ngày xưa và tất nhiên cũng chẳng có chuyện “đem tình cầm sắt đổi ra cầm kì” như Truyện Kiều của Việt Nam.

      “Cái bí mật của tâm hồn An Nam” văn hóa Việt Nam kết hợp với cái uyên áo của văn hóa Aán Độvà Trung Hoa cùng tư tưởng nhân văn thế kỉ 18-19 ở Việt Nam qua ngòi bút của thiên tài Nguyễn Du đã tạo nên kiệt tác Truyện Kiều. Kim Kiều truyện hay Kim Ngư truyện của Nhật Bản lại chưa phải lànhững thành tựu tiêu biểu của văn học Nhật Bản nó chỉ dừng lại ở mức văn học“treo gương” răn đời và đạo nghĩa. Nó là câu chuyện của một thời chứ không phải của muôn thuở. Và điều ấy cũng giải thích sự khác nhau về số phận giữa Truyện Kiều của Nguyễn Du Việt Nam với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Trung Quốc Kim Kiều truyện của Nishida hay Kim Ngư truyện của Bakin Nhật Bản.                                                                                    

       12. 1995-7.1999

                                         Nguồn: Bài do tác giả  cung cấp  

       

      CHÚ  THÍCH

1.      Về tư  liệu  Truyện Kiều ở Nhật Bản ngoài tư liệu của thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo chúng tôi chủ yếu dùng các công trình dịch thuật của Gs.Takeuchi mà Giáo sư đã cho chúng tôi khi chúng tôi đến thăm vào năm 1995. Nhân đây chúng tôi xin gửi dến Giáo sư lời cám ơn chân thành. Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn vị ân sư của chúng tôi là Gs.Kawaguchi Ken-ichi(ĐH.Ngoại ngữ Tokyo) đã cho chúng tôi mượn cuốn Kim Vân Kiều (Kodansha 1975) để sao chụp dùng cho bài viết này.

2.      Lời giới thiệu Kim Vân Kiều Komatsu Kiyoshi Đông Bảo xuất bản Tokyo 1942.

3.      Lời bạt Kim Vân Kiều Takeuchi Yonosuke Kodansha xuất bản 1975.

4.      Bản Kim Vân Kiều tân truyện này chúng tôi đã được Gs.Takeuchi cho vào năm 1995. Oâng Nguyễn Quảng Tuân cũng có chụp mấy trang của bản này in ở sau quyển Kiều của ông (NXB.KHXH 1997 tr.438 446 447) nhưng ông lại quên ghi nguồn gốc tài liệu.

5.      Năm 1995 chúng tôi có viết bài giới thiệu về Truyện Kiều ở Nhật Bản trên Kiến thức ngày nay (số 200-Xuân Bính tí 1996). Sau đó trên Kiến thức ngày nay số 205 ông Nguyễn Quảng Tuân(dưới biệt hiệu Văn Đức) đã đặt nghi vấn ở một số chi tiết tỏ vẻ ngờ là không chắc có những sách đó. Chúng tôi buộc lòng phải chụp các tài liệu liên quan đưa lên Kiến thức ngày nay số 212 với bài viết nhan đề : Tư liệu về Truyện Kiều ở Nhật Bản không có gì phải bàn cãi. Oâng Nguyễn Quảng Tuân đã hoàn toàn thỏa mãn và sau đó đã sử dụng tài liệu của chúng tôi trong cuốn  Kiều của mình (như chú thích 4 ở trên).

More...

Tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam thời trung đại - từ góc nhìn phiên dịch Hán Nôm.

By

Tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam thời Trung đại

Từ góc nhìn phiên dịch Hán Nôm 
ThS. Nguyễn Tuấn Cường 
Khoa Văn học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Đại học Quốc gia Hà Nội

 
 
       Trong bài viết này căn cứ trên phạm vi tư liệu sử dụng là (những ghi chép về) 04 tác phẩm Kinh Thi chữ Nôm hiện không/ chưa tìm thấy và 08 tác phẩm 19 văn bản 31 kí hiệu sách với tổng số 5.368 trang tư liệu về Kinh Thi chữ Nôm hiện còn lưu giữ người viết thử phác họa một cái nhìn về vấn đề tiếp nhận Kinh Thi qua phiên dịch Hán Nôm từ góc nhìn phiên dịch học (phiên dịch học với tư cách là một hoạt động giao tiếp liên văn hóa([1])) và góc nhìn lịch sử văn hóa. Trên cơ sở đó bài viết sẽ sơ bộ tìm hiểu ba vấn đề: một là lược sử phiên dịch Kinh Thi tại Việt Nam thời Trung Đại hai là cách xử lí của các bản dịch với thứ ngôn ngữ phân tích tính cao của Kinh Thi và ba là thiên hướng tiếp nhận Kinh Thi của các bản dịch là văn học hay kinh học. Bởi trong số những dịch phẩm kể trên có một số dịch phẩm chỉ dịch hết 160 thiên phần Quốc Phong nên những khảo sát trong bài viết cũng tạm thời giới hạn trong độ dài đó.

Từ theo chốt (key words): Kinh Thi chữ Nôm tiếp nhận phiên dịch 

        1. Lược sử phiên dịch Kinh Thi tại Việt Nam thời Trung Đại([2])

        Trong phiên dịch phương Tây “Eric Jacobsen khẳng định một cách khá bao quát rằng phiên dịch là một sáng tạo của người La Mã cổ đại”([3]) nhưng phải đến đầu thế kỉ 16 phương Tây mới xuất hiện những nhà nghiên cứu lí thuyết phiên dịch thực thụ tiêu biểu là nhà nhân văn học người Pháp Etienne Dolet (1509 - 1546) với việc đề xuất 5 nguyên tắc cho dịch giả trong tác phẩm La manière de bien traduire d une langue en aultre (Làm sao để dịch cho tốt từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác)([4]). Đến cuối thế kỉ 20 phiên dịch học đã xác định được một vị trí không thể phủ nhận của một ngành khoa học với sự ra đời liên tiếp của hai bộ bách khoa thư Encyclopedia of Translation Studies (Bách khoa toàn thư phiên dịch học 1998) và Encyclopedia of  Literary Translation into English (Bách khoa toàn thư phiên dịch văn chương sang Anh ngữ 2000)([5]).

         Ở Trung Quốc mặc dù phiên dịch nước này chỉ nở rộ từ phong trào dịch kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Hán bắt đầu với cuốn Minh độ ngũ thập hiệu kế kinh do An Thế Cao dịch vào năm thứ nhất niên hiệu Nguyên Gia đời Hán Hoàn đế (năm 151)([6]) và phát triển mạnh mẽ ở thời Cưu Ma La Thập([7]) nhưng ngay từ thời Tây Hán trong tác phẩm Sử kí ở nhiều thiên khi sử dụng tư liệu từ Kinh Thư Tư Mã Thiên đã “dịch” một phần thứ văn ngôn trong Kinh Thư ra tiếng Hán thời Tây Hán([8]).

Ở Việt Nam có một số ghi chép mang tính huyền sử về việc phiên dịch trong xã hội xưa như Bạch trĩ truyện trong Lĩnh Nam chích quái chép: “Vào thời Chu Thành Vương vua Hùng Vương sai bề tôi xưng là họ Việt Thường đem trĩ trắng sang dâng biếu nhà Chu. Vì ngôn ngữ bất đồng Chu Công phải sai người qua mấy lần dịch rồi mới biết”([9]). Tư liệu đáng tin cậy về phiên dịch (dịch viết) sớm nhất ở Việt Nam có lẽ là những thông tin từ trong Thiền uyển tập anh với lời Thông Biện Quốc Sư trích lời Đàm Thiên Pháp Sư đáp Tùy Cao tổ: “Một phương Giao Châu đường thông Thiên Trúc Phật pháp lúc mới tới thì Giang Đông chưa có mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi độ tăng hơn 500 người dịch kinh 15 quyển vì nó có trước vậy”([10]). Có thể hiểu phiên dịch ở đây là dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán bởi khi ấy nước ta chưa có một văn tự riêng thành thục. Phong trào dịch kinh Phật vẫn tiếp tục diễn ra ở Việt Nam và chắc hẳn đã chuyển dần từ dịch Phạn – Hán sang dịch Hán – Việt (qua chữ Nôm) khi chữ Nôm đạt đến độ thành thục (với nghĩa đủ để ghi toàn bộ hệ thống ngôn ngữ nói) mà di duệ khá sớm của phong trào này hiện nay còn có thể thấy qua cuốn Phật thuyết Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh mặc dù tác phẩm này chỉ còn một văn bản in theo bộ ván gỗ được khắc vào thế kỉ 18 nhưng ngôn ngữ và văn tự (chữ Nôm) trong văn bản cho thấy rất có thể đây là tác phẩm được dịch và định hình ngôn ngữ văn tự từ thời Lí Trần([11]).

         Trong bối cảnh phiên dịch như vậy việc dịch Kinh Thi từ tiếng Hán sang tiếng Việt (qua chữ Nôm) đã được đặt ra từ rất sớm trên lãnh thổ Việt Nam. Sách Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa cho rằng “Đến thời Sĩ vương dời xe đến nước ta [cai trị] hơn bốn mươi năm ban khắp giáo hóa giải nghĩa bằng lời thông tục nước Nam để thông hiểu chương cú hợp thành thi ca quốc ngữ để ghi tên gọi theo vần mà làm sách Chỉ nam phẩm vựng gồm hai quyển thượng và hạ”([12]). Văn Đa Cư Sĩ Nguyễn Văn San (khoảng nửa sau thế kỉ 19) có lẽ đã căn cứ vào những ghi chép này để nêu ra thuyết Sĩ Nhiếp (Tiếp 187 - 226) dịch Kinh Thi ra chữ Nôm tuy rằng đây có thể chỉ là những trang huyền sử([13]) nhưng việc đẩy niên đại phiên dịch Kinh Thi lên đến tận thời Sĩ Nhiếp (được gắn cho tôn hiệu Nam Giao Học Tổ) cho thấy bộ kinh điển này đã được người Việt xưa trọng thị và tôn sùng. Về thời nhà Hồ bộ tín sử Đại Việt sử kí toàn thư chép: “Tháng 11 [năm Quang Thái thứ 9 (1396)] [Hồ] Quý Li làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa và bài tựa sai nữ sư dạy hậu phi và cung nhân học tập. Bài tựa phần nhiều theo ý mình không theo tập truyện của Chu Tử”([14]). Theo ghi chú của người dịch bộ sử kí này thì đây có lẽ là một bản “giải thích Kinh Thi bằng quốc ngữ hay dịch Kinh Thi ra quốc ngữ (chữ Nôm)”. Dù tư liệu này hiện không còn giữ được nhưng ghi chép về nó cho thấy Kinh Thi đã được dịch làm tài liệu để giáo dục những phụ nữ có địa vị cao trong xã hội một động thái chứng tỏ nhà cầm quyền đương thời đã có ý thức mở rộng đối tượng giáo dục của bộ kinh điển này sang phạm vi nữ giới chứ không chỉ bó hẹp trong phạm vi nam giới theo quan điểm giáo dục của Nho giáo truyền thống.

Từ sau thời Hồ phong trào phiên dịch ở Việt Nam ngày càng nở rộ và quan trọng hơn cả là sản phẩm của hoạt động phiên dịch ấy vẫn còn hiện hữu trước mắt chúng ta ngày nay. Trong thời Trung Đại dù chữ “Quốc ngữ” (chữ cái Latin ghi tiếng Việt) đã được sử dụng tuy không rộng rãi (chủ yếu là trong Giáo hội Công giáo) tại Việt Nam nhưng với những tư liệu hiện biết thì thành quả phiên dịch giai đoạn này nổi bật là dịch từ tiếng Hán (qua chữ Hán) sang tiếng Việt (qua chữ Nôm). Một trong những tác phẩm Hán văn rất được chú ý dịch là Kinh Thi. Về những tư liệu dịch đã mất ngoài huyền sử về việc Sĩ Nhiếp dịch Kinh Thi và việc Hồ Quý Li làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa (xem trên) ở giai đoạn trước thì từ thời Hồ trở đi ta còn biết đến việc Nguyễn Quý Kính (Cảnh 1693 - 1766) thích nghĩa Tứ Thư Ngũ Kinh([15]) (hẳn phải có Kinh Thi); việc Tùng Thiện vương Nguyễn Miên Thẩm (1819 - 1870) viết một quyển Thi kinh quốc âm ca ([16]). Đáng tiếc là bốn tư liệu này hiện chưa/ không tìm được.

Bất kể là  có hay không có sự mất mát trên thì chúng ta vẫn hoàn toàn có thể lạc quan vì theo những tư liệu người viết khảo sát hiện vẫn còn lưu giữ được ít nhất 08 tác phẩm 19 văn bản 31 kí hiệu sách với tổng số 5.368 trang tư liệu về Kinh Thi chữ Nôm([17]) (xin xem bảng tổng kết về trữ lượng tư liệu Kinh Thi chữ Nôm hiện còn trong phần Phụ lục cuối bài viết này). Các dịch phẩm này được thể hiện ở cả hai thể loại văn xuôivăn vần về quy mô có cả toàn dịchlược dịch. Niên đại của các dịch phẩm trải dài từ đầu thế kỉ 18 đến cuối thế kỉ 19 – đầu thế kỉ 20. Sớm nhất là tác phẩm Thi kinh giải âm chưa rõ dịch giả mới phát hiện được một văn bản in theo ván khắc của nhà tàng bản Kế Thiện đường khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) văn bản này đã được Sùng Chính viện cho khắc lại vào năm Quang Trung thứ 5 (1792) theo chiếu chỉ của vua Quang Trung yêu cầu dịch gấp một số bộ kinh điển Nho gia([18]). Sau đó là tác phẩm Thi kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa gồm hai bản khắc một bản khắc năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) của nhà tàng bản Nguyễn đường và ngay một năm sau đó năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) nó đã được Đa Văn đường khắc lại. Tác phẩm này dựa trên cơ sở bản chữ Hán Thi kinh đại toàn tiết yếu ([19]) của Bùi Huy Bích (1744 - 1818) nhưng chưa rõ người dịch có phải là chính họ Bùi hay không([20]). Việc chỉ trong một thời gian không dài (1714 → 1792 1836 → 1837) đặc biệt là trong điều kiện khắc ván và in ấn khó khăn mà các dịch phẩm đã được “tái bản” liên tục như vậy chứng tỏ nhu cầu tiếp nhận Kinh Thi ở Việt Nam là tương đối cấp thiết.

Bên cạnh những dịch phẩm văn xuôi trên còn một số dịch phẩm bằng thơ mà văn bản phần lớn tồn tại ở dạng chép tay chưa rõ niên đại chính xác ước đoán xuất hiện trong khoảng từ cuối thế kỉ 18 đến đầu thế kỉ 20. Đáng ghi nhận nhất là hai tác phẩm Thập ngũ Quốc Phong diễn âm (AB.169) và Thi kinh thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc([21])(A.1122) đều diễn ca trọn vẹn 160 thiên thuộc phần Quốc Phong (mỗi thiên dịch thành một bài thơ riêng) tổng số câu của mỗi bản diễn ca lần lượt là 1.617 và 1.499. Cũng cần nhắc đến tác phẩm Thi kinh quốc ngữ ca (có thể là tác phẩm của Nguyễn Bá Lân 1700 - 1785) thể lục bát dài 700 câu (dòng) thơ diễn ca tóm lược mỗi thiên gọn vào khoảng 2 câu thơ tác phẩm này còn 1 bản khắc in kí hiệu VNv.125 và 5 truyền bản chép tay khác trong các kí hiệu sách AB.151 AB.314 AB.360 AB.523 VNv.533. Ngoài ra còn một số bản diễn ca lẻ tẻ từng thiên như thiên Thất nguyệt thiên Tiểu nhung mà Phạm Đình Toái (giữa thế kỉ 19) cũng tham gia diễn ca. Người Việt dường như đặc biệt chú ý đến thiên Thất nguyệt thuộc Mân Phong 88 câu (dài nhất trong 160 thiên Quốc Phong) đến nay chỉ riêng thiên này vẫn còn 2 bản dịch văn xuôi([22]) và 4 bản dịch thơ([23]) bằng chữ Nôm. Điều đó chứng tỏ trong thời Trung Đại ở Việt Nam nhu cầu đọc thiên Thất nguyệt là khá cấp thiết nguyên nhân có lẽ là do thiên này có nội dung nói về những công việc gắn bó thiết thân tới người nông dân trong trọn năm: thời tiết nông vụ trồng trọt ăn mặc trồng dâu nuôi tằm xe tơ dệt lụa săn bắn dâng lễ vật lên vua…

Rõ ràng là  Kinh Thi đã rất được chú ý phiên dịch trong lịch sử Trung Đại Việt Nam. Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng này? Ta biết rằng Kinh Thi vốn tồn tại với hai tư cách: một tác phẩm văn học và một bộ kinh điển của Nho giáo. Là tác phẩm văn học nó nổi trội ở thời điểm ra đời rất sớm trong lịch sử văn học Trung Quốc (khoảng từ trước thế kỉ 6 tr.CN). Là tác phẩm kinh điển Nho giáo nó nổi trội ở thể loại văn vần duy nhất trong số Tứ Thư – Ngũ Kinh. Đến thời Hồ thì về cơ bản Nho giáo đã tạo được những ảnh hưởng lấn át dần Phật giáo và Đạo giáo trong xã hội Việt Nam đặc biệt là trong chính trị và giáo dục bằng chứng là thời kì này đã xuất hiện những bậc “cự Nho” như Nguyễn Trãi. Với tính “sùng cổ” “sùng kinh” và “sùng văn” của Nho sĩ nói chung và lớp trí thức Nho học Đại Việt nói riêng thì việc từ rất sớm người Việt đã chọn một tác phẩm văn học – kinh học có nguồn gốc xa xưa như Kinh Thi để dịch ra bản ngữ là điều có thể cắt nghĩa được.

2. Cách xử lí  dịch với thứ ngôn ngữ phân tích tính cao trong Kinh Thi

Bất cứ độc giả nào đọc Kinh Thi đều nhận thấy một điều là: ngôn ngữ trong Kinh Thi là ngôn ngữ phân tích tính (analytic language) cao độ… Ví dụ: trong thiên Tiểu nhung để biểu thị các giống ngựa khác nhau Kinh Thi đã dùng để chỉ ngựa có vằn màu xanh đen dùng chúc 馵để chỉ ngựa có chân sau bên trái màu trắng dùng lưu để chỉ ngựa màu đỏ mà lông bờm đen dùng qua để chỉ ngựa vàng mõm đen dùng li để chỉ ngựa đen tuyền… chứ không dùng cấu trúc định ngữ + trung tâm ngữ (x + ) như cách xử lí của ngôn ngữ tổng hợp tính (synthetic language). Hay như thiên Trắc hỗ dùng hỗ để chỉ núi trọc dùng để chỉ núi có cây cỏ chứ không dùng cấu trúc xxx + sơn Trong khi đó qua văn Nôm nói chung ta đều thấy ngôn ngữ tiếng Việt vào thời xuất hiện các bản dịch chữ Nôm lại không phải là ngôn ngữ phân tích tính cao như thế. Vậy thì các bản dịch đã lựa chọn giải pháp nào để dung hòa mâu thuẫn này? Kết quả khảo sát cho thấy các bản dịch đều tỏ ra tôn trọng nguyên bản bằng cách xử lí đưa nguyên chữ Hán ấy vào bản dịch ví dụ:

-    Ngựa kì ngựa lưu ấy làm ngựa giữa ngựa qua ngựa li ấy làm ngựa tham. (các bản Vĩnh Thịnh 1714 và Quang Trung 1792 ở trang IV4b các bản Minh Mệnh 1836 và Minh Mệnh 1837 ở trang II91a).

-   Ngựa kì lưu ấy này ở giữa

Ngựa  qua li hai ngựa kèm ngoài.

(Thập ngũ Quốc Phong diễn âm AB.169 154a)

-   Kì lưu song mã kéo trong

Qua li hai ngựa gác rong bên ngoài.                  

  (Thi kinh thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc A.1122 68a)

Nhưng cũng có bản dịch chọn cách dịch thành thứ ngôn ngữ tổng hợp tính ví dụ với thiên Trắc Hỗ hai bản dịch thơ giữ nguyên ngôn ngữ phân tích tính còn bốn bản diễn xuôi chuyển thành ngôn ngữ tổng hợp tính:

Lên  núi trọi kia vậy […] Lên núi rậm kia vậy (bốn bản diễn xuôi III42ab II73b-74a)

 Lên hỗ dĩ trông nom cha mẹ (AB.169 132a)

Trèo lên núi  hỗ dĩ kia (A.1122 64a)

Nhưng điểm quan trọng nhất có lẽ là: trong khi muốn giữ nguyên thứ  ngôn ngữ phân tích tính của Kinh Thi thì ngay ở lời dịch các dịch giả vẫn chú ý biến nó thành một thứ ngôn ngữ tổng hợp tính: ngựa kì ngựa lưu ngựa qua ngựa li ngựa kì lưu ngựa qua li kì lưu song mã qua li hai ngựa núi hỗ dĩ kia… Đó là cách xử lí chung mà các bản dịch Nôm đã thực hiện với thứ ngôn ngữ phân tích tính cao trong Kinh Thi mà trường hợp hai thiên Tiểu nhung Trắc hỗ nêu ra trên đây chỉ là những điển hình. Cách xử lí này đã chứng tỏ được tính nghệ thuật và tính khoa học của nó bởi đến cuối thế kỉ 20 nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh vẫn còn tái khẳng định điều này khi ông cũng có chủ trương tương tự với vấn đề dịch Kinh Thi ra tiếng Việt ông viết: “[…] theo ý tôi cứ dịch là “ngựa” hoặc “ngựa kì” “ngựa chúc”… còn chi tiết nếu muốn giúp người đọc hiểu thêm tốt hơn nên đưa riêng vào phần chú thích. Làm như vậy chúng ta vừa đảm bảo được tính nghệ thuật của bản dịch vừa đảm bảo tính chính xác khoa học trên phương diện ngôn ngữ học”[24].

Qua đây có thể thấy: một mặt các bản dịch đã giữ một thái độ tôn trọng nguyên bản Kinh Thi khi tiếp nhận tác phẩm này người dịch sẵn sàng chấp nhận khó khăn khi đọc hiểu ngôn ngữ đích (target language) để có thể truyền đạt trọn vẹn các lớp nghĩa của ngôn ngữ nguồn (source language) bằng việc tái sử dụng nguyên vẹn một số từ ngữ ở ngôn ngữ nguồn; mặt khác các bản dịch vẫn luôn có xu hướng “tổng hợp tính hóa” ngôn ngữ Kinh Thi bằng cả hai cách: một là dịch thẳng nghĩa của một từ phân tích tính của ngôn ngữ nguồn sang một từ tổ tổng hợp tính của ngôn ngữ đích (hỗ → núi trọi dĩ → núi trọc…) hai là đệm một danh từ chung vào trước (hoặc sau khi chịu sức ép của vần luật thơ) những từ phân tích tính (ngựa kì ngựa lưu ngựa qua ngựa li qua li hai ngựa…).

3. Tiếp nhận kinh học và văn học

Như trên  đã trình bày Kinh Thi tồn tại song song với hai tư cách: tác phẩm văn học và tác phẩm kinh học Nho gia. Thời gian xuất hiện ở Việt Nam những bản dịch hiện còn (sớm nhất là bản có niên đại ván khắc 1714) cũng là thời gian mà Nho giáo đã ảnh hưởng toàn diện đến thiết chế tư tưởng văn hóa xã hội Việt Nam vì vậy quá trình tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam hoàn toàn có thể diễn ra cả theo hướng tiếp nhận một tác phẩm văn học (bản lai diện mục của bộ kinh điển này) và tiếp nhận một tác phẩm kinh học Nho gia (do ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo Trung Quốc).

Nguyên lai Kinh Thi là một tác phẩm văn học bằng thơ nhưng do có thuyết cho rằng nó được Khổng tử san định([25]) nên hậu Nho đã “kinh học hóa” (classicize) “huyền thoại hóa” (mythify) thi phẩm ấy. Trào lưu này vốn xuất hiện ngay từ thời Hán với các bản chú giải Kinh Thi như Mao truyện Trịnh tiên và tiêu biểu là bản Thi kinh tập truyện của Chu Hi đời Tống. Nhưng trào lưu “kinh học hóa” “huyền thoại hóa” ấy dần dần bị phản đối từ đời Minh đã xuất hiện trào lưu nghiên cứu Kinh Thi “phản truyền thống” coi trọng thi ý và tình cảm mà coi nhẹ huấn hỗ và lí tính trào lưu này tiếp tục phát triển mạnh vào đời Thanh. Theo nhà nghiên cứu Vương Hiểu Bình ở Trung Quốc Phương Ngọc Nhuận (1811 - 1883) người đời Thanh viết cuốn Thi kinh nguyên thủy với phương châm theo chữ để xét nghĩa tầm nguyên ý gốc của thi nhân. Phương Ngọc Nhuận cho rằng thơ trong Kinh Thi không bị câu nệ bởi Thi tự Mao truyện như với thiên Phù dĩ ông gạt bỏ các thuyết “chữa ác tật” và “chữa khó đẻ”; với thiên Manh ông cho đây không phải là sáng tác về việc ruồng bỏ vợ… Ông còn nói rằng: “Đại để là các nhà nghiên cứu về Kinh Thi trước hết đều bị một cái mũ vừa to vừa rộng chụp vào đầu rồi sau mới tự mình trình bày ý kiến riêng”. Ở Nhật Bản các học giả từ thời Giang Hộ (Edo 1601 – 1867) đã kế thừa xu hướng “phản truyền thống” trong nghiên cứu Kinh Thi đời Minh ở Trung Quốc. Các học giả Nhật là hai cha con Y Đằng Nhân Trai (Ito Jinsai 1627 - 1705) và Y Đằng Đông Nhai (Ito Togai 1670 – 1738) Lương Xuyên Tinh Nham (Yanagawa Seigan 1789 – 1858)… thời Giang Hộ; và Tiểu Dã Hồ Sơn (Ono Kozan 1814 – 1910) thời Minh Trị (Meiji 1868 - 1912) “đều chủ trương đọc Kinh Thi với tư cách là một tác phẩm văn học”([26]).

       Có thể thấy rằng vào thời Minh – Thanh ở Trung Quốc và các thời Giang Hộ Minh Trị ở Nhật Bản người Trung Quốc và Nhật Bản đã không chỉ hiểu Kinh Thi với tư cách một tác phẩm kinh học (như yêu cầu trong khoa cử) mà họ còn hiểu Kinh Thi với tư cách một tác phẩm văn học thực thụ trào lưu “giải kinh học” (declassicize) “giải huyền thoại” (demythify) đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc tiếp nhận Kinh Thi. Vậy trong cùng thời kì đó người Việt Nam đã tiếp nhận tác phẩm này như thế nào? Như đã dẫn trên Hồ Quý Li làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa trong đóBài tựa phần nhiều theo ý mình không theo tập truyện của Chu Tử” mặc dù ghi chép này không hề đề cập đến nội dung phần diễn Nôm Kinh Thi mà chỉ nói về tư tưởng của người dịch trong bài tựa nhưng nó có thể là một bằng chứng cho thấy ở Việt Nam cũng sớm xuất hiện trào lưu “giải kinh học” “giải huyền thoại” bởi chắc hẳn Hồ Quý Li đã có những nỗ lực để thoát khỏi cái bóng kinh học của Chu Hi. Tiếc rằng đây cũng chỉ là ức đoán bởi hiện không còn tác phẩm Quốc ngữ Thi nghĩa để kiểm chứng.   

        Xét về mặt ngôn ngữ phiên dịch biểu hiện rõ rệt nhất cho việc kinh học hóa Kinh Thi là việc các bản truyện chú bằng chữ Hán đã có xu hướng “đặc chỉ hóa” các từ phiếm chỉ trong Kinh Thi khi đó các nhân vật vốn là phiếm chỉ trong tác phẩm đã được “bắt vít” với các nhân vật lịch sử đặc chỉ (Văn Vương Thái Tự Trang Khương Vệ Trang công…). Với những dịch phẩm Kinh Thi hiện còn nếu chỉ tính riêng trong phần văn dịch chữ Nôm mà bỏ qua những phần cước chú Hán văn (đối với bốn bản diễn xuôi) thì xu hướng này cũng khá đậm nét ví dụ:  

Stt thiên.

Câu

Nguyên bản – 

Dịch nghĩa

Bốn bản dịch xuôi (miễn ghi vị trí) Bản dịch thơ AB.169 Bản dịch thơ A.1122
28.9   Người con gái ấy về nhà chồng Nàng Đái Vĩ chưng khi trở về Ả kia về nước xa đưa theo [cùng] (32b) Đưa nàng Đái Vĩ về không (46b)
28.10 Tiễn đưa nàng một quãng xa Bà  Trang Khương xa đưa đấy Xa xa trông ngóng ngập ngừng lòng ta. (46b)
30.1 Gió thổi suốt ngày và dữ dội Tính Trang công như gió trọn ngày vả kíp Trọn ngày như  gió đùng đùng (35b) Trọn ngày gió  dữ lắm ôi (47a)
49.3 Người ấy vô lương Công tử  Ngoan kia chưng chẳng lành Người kia chưng nết chẳng lành (62a) Tuyên Khương công tử là người vô lương (51b)
49.7 Người ấy vô lương Tuyên Khương kia chưng chẳng lành
57.1 Người đẹp đẽ  đã trưởng thành Người cả  là Trang Khương thửa tốt ngồn ngộn Ả kia người lớn vả dài (75b) Người to tốt  đẹp thung dung (53b)
116.4 Theo ngài ở đất Ốc Theo ngươi Hoàn Thúc chưng đất (Khúc) Ốc Theo cùng ra Ốc Hộc với ngơi (139b) Theo ngươi Hoàn Thúc tới vào Ốc đô (65b)
130.3 Người quân tử đến 130.3 Tần Tương công đến đấy Người quân tử  đến nơi dưới núi (156b) Vua ta kia đã tới nay (68b)
134.1 Ta tiễn đưa cậu ta đi Ta là  Tần Khang công đưa nhà cậu Trùng Nhĩ Đưa cữu thị trở về Tấn quốc (161a) Ta đi hộ cậu lên đường (69b)
144.1 Làm gì ở đất Chu Lâm? Trần Linh công làm sao vậy mà đi đất Chu Lâm Làm sao đến đất Chu Lâm (168b) Làm sao vậy  ấp Chu Lâm (71a)
  
 
 

      Trong 10 trường hợp các bản diễn xuôi đã “đặc chỉ hóa” các từ phiếm chỉ như trên thì bản dịch thơ Thập ngũ Quốc Phong diễn âm (AB.169) chỉ có 1 trường hợp bản dịch thơ Thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc (A.1122) cũng chỉ có 4 trường hợp.  

      Trong các bản diễn thơ đáng chú ý là bản Thi kinh thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc được chép tay trong kí hiệu sách A.1122 dịch thơ trọn vẹn 160 thiên phần Quốc Phong thống nhất theo thể lục bát. Kết thúc phần dịch của mỗi thiên là một câu lục (chứ không phải câu bát như thông lệ) có nội dung thường không nằm trong nội dung nguyên bản Hán văn Kinh Thi mà hoặc là một ý kiến đánh giá của dịch giả về tông chỉ của thiên đó hoặc nói rõ thiên ấy có liên hệ như thế nào với những thiên khác ví dụ với 20 thiên đầu tiên:  

Stt thiên Tên thiên Câu lục kết thúc mỗi thiên trong bản dịch A.1122 Vai trò của câu kết
1              Quan thư Ba trăm chép  để đầu thiên Giới thiệu đây là thiên đầu
2              Cát  đàm Kiệm cần hiếu kính khả quan Đánh giá về tông chỉ của thiên
3              Quyển nhĩ Ta ngồi rót chén kim lôi Thuộc nội dung thiên
4              Nam hữu cưu mộc Nối tương phúc lí  ngày thêm Thuộc nội dung thiên
5              Chung tư Đức dầy con cháu lắm thay Thuộc nội dung thiên
6              Đào yêu Cửa nhà  thuận hợp hòa vui Thuộc nội dung thiên
7              Thố  tư Đồng tâm đồng đức chan chan Thuộc nội dung thiên
8              Phù  dĩ Hòa bình vô  sự cùng vui Đánh giá về tông chỉ của thiên
9              Hán quảng Sông dài chẳng khá  vượt ngang Thuộc nội dung thiên
10          Nhữ  phần Đã về chẳng bỏ xa ta Thuộc nội dung thiên
11          Lân chi chỉ Chân chân nhân hậu hữu dư Đánh giá về tông chỉ của thiên
12          Thước sào Thơ  này ứng với “Thư  cưu” Liên hệ với thiên khác
13          Thái phiền Thi trung họa xuất hiền phi Đánh giá về tông chỉ của thiên
14          Thảo trùng So cùng “Quyển nhĩ” như in Liên hệ với thiên khác
15          Thái tần Tam tòng tứ  đức gồm no Đánh giá về tông chỉ của thiên
16          Cam đường Càng lâu tức thấm càng sâu Đánh giá về tông chỉ của thiên
17          Hành lộ Lòng ngay như  đá không xiêu Đánh giá về tông chỉ của thiên
18          Cao dương Trong triều còn lắm người hay Đánh giá về tông chỉ của thiên
19          Ân kì lôi<

More...

Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của Kinh Thi trong văn chương chữ Nôm Việt Nam.

By

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA  KINH THI

TRONG VĂN CHƯƠNG CHỮ NÔM VIỆTNAM   

ĐỖ THỊ BÍCH TUYỂN

                                                                                                                                      Viện Nghiên cứu Hán Nôm

    I. Giới thiệu sơ lược về  Kinh Thi        

Theo các nhà nghiên cứu Kinh Thi ở Trung Quốc thì Kinh Thi vốn là lời những bài dân ca được lưu truyền trong dân gian từ đầu thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu tức khoảng từ thế kỷ XI đến thế kỷ VI trước công nguyên. Từ lĩnh vực dân gian được chuyển sang lĩnh vực thành văn hơn nữa còn được xếp vào loại sách kinh điển Kinh Thi đã trải qua quá trình sưu tầm chỉnh lý biên soạn khá phức tạp. Tuy nhiên chúng tôi không bàn vấn đề đó ở đây chỉ biết rằng bộ Kinh Thi chúng ta được biết đến ngày nay do Khổng Tử đã san định và để lại cho đời.

    Với các nhà nghiên cứu về Nho học Trung Quốc Kinh Thi luôn được coi là tấm gương sáng cho muôn đời soi vào. Các sách kinh điển của Trung Quốc như Đại học Trung Dung Luận ngữ Mạnh Tử đều dẫn Kinh Thi làm bằng chứng. Sách Luận ngữ - Dương Hóa có câu: “Thi khả dĩ hưng khả dĩ quan khả dĩ quần khả dĩ oán nhĩ chi sự phụ viễn chi sự quân đa chí ư điểu thú thảo mộc chi danh” nghĩa là: xem Kinh Thi có thể phấn khởi được ý chí xem xét được việc hay dở hòa hợp với mọi người bày tỏ nỗi sầu oán gần thì học việc thờ cha xa thì học việc thờ vua lại biết được nhiều tên chim muông cỏ cây.

    Sách Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp là tác phẩm lý luận văn học vĩ đại của Trung Quốc xuất hiện cách chúng ta hơn một nghìn năm đã từng biện giải tán tụng về Kinh Thi coi đó như khuôn mẫu chuẩn mực cho các sáng tác(1). Sách Tam tự kinh một cuốn sách giáo khoa khải mông từng nhận định “Vi học giả tất hữu sơ. Tiểu học chung chí Tứ thư. Hiếu kinh thông Tứ thư thục. Như Lục kinh thủy khả độc: Thi Thư Lễ Dịch Xuân Thu hiệu Lục kinh đương giảng cầu” nghĩa là: Người đi học tất có đầu. Xong Tiểu học đến Tứ thư. Thông Hiếu kinh thuộc Tứ thư. Đến Lục kinh mới được học. Thi Thư Lễ Dịch Xuân Thu gọi Lục kinh cần giảng đọc(2).

    Có  thể nói mức độ ảnh hưởng của Kinh Thi đối với sáng tác văn học đời sau ở Trung Quốc là rất lớn từ văn học các đời Hán Nam Bắc Triều Tùy Đường Tống Nguyên Minh Thanh cho đến nay thơ văn thời nào cũng tiếp thu tinh hoa của Kinh Thi. Không những thế Kinh Thi còn có ảnh hưởng rất lớn đối với nền văn học và văn hóa các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam.

    II. Kinh Thi với văn học Việt Nam

    Khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam thì Kinh Thi cùng với các bộ sách kinh điển khác đã trở thành khuôn vàng thước ngọc cho hệ tư tưởng Nho giáo và sáng tác văn chương ở nước ta. Trong Vân đài loại ngữ Lê Quý Đôn từng viết: “Tự hữu văn tự tiện hữu thư tịch. Ngũ kinh Ngữ Mạnh thành như nhật nguyệt” nghĩa là: Từ khi có văn tự thì có sách vở. Sách Ngũ kinh sách Luận ngữ và Mạnh tử thật như mặt trời mặt trăng sáng chói”(3).         

Là một người hiểu rộng về Kinh Thi Lê Quý Đôn còn cho rằng: “Thơ khởi phát từ trong lòng ta. Ba trăm bài thơ trong Kinh Thi phần nhiều là của nông dân phụ nữ làm ra mà cũng có những bài các văn sĩ đời sau không theo kịp được như thế là vì nó chân thực”(4).         

Hơn nữa các thể phú tỷ hứng trong Kinh Thi thường được xem là tiêu biểu cho các thể loại sáng tác sau này. Như Lê Quý Đôn đã đưa ra nhận xét như sau: “Sách Văn tâm điêu long chép: Luận thuyết từ tự thì Kinh Dịch làm đầu; chiếu sách chương tấu thì Kinh Thư làm đầu; phú tụng ca tán thì Kinh Thi dựng thể cách...”(5)         

Với tất cả những gì tinh tuý và thuần mĩ   Kinh Thi được coi là khuôn mẫu cho sáng tác của các nho sĩ Việt Nam. Cùng với các bộ sách kinh điển khác của Nho giáo Kinh Thi từng được dùng làm đề tài trong khoa cử của Việt Nam. Trong sách Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu hiện chúng tôi tìm thấy hai đầu sách:        

1. Thi Kinh sách lược 詩經策略 ký hiệu VHv.385 nội dung: tuyển chọn 350 bài văn sách đề tài lấy ở các thiên trong Kinh Thi.        

2. Thi Thư sách lược 詩書策略 ký hiệu VHv.433 nội dung: tuyển 180 bài văn sách đề tài lấy trong Kinh ThiKinh Thư.        

 Ở  một vài sách khác các tác giả cũng sử dụng Kinh Thi cho mục đích biên soạn của mình như trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn soạn năm 1777 nội dung ghi chép về chính trị giáo hóa phẩm hạnh lễ nghi quan chế... trong đó có những đoạn bàn về Tứ thưNgũ Kinh (trong đó có Kinh Thi). Học giả Nhàn Vân Đình Trần Duy Vôn khi biên soạn sách Đế vương bảo giám 帝王寶監dâng vua có trích dẫn Kinh Thi làm tài liệu để bàn luận.v.v.        

Ngoài ra còn rất nhiều sách nói đến Kinh Thi nhưng không viết riêng biệt mà gộp lại cả trong Ngũ kinh như:        

1. Ngũ kinh loại thuyết 五經類 ký hiệu A.2223 chép những bài văn sách đề tài lấy trong Ngũ kinh.        

2. Ngũ kinh tiết yếu 五經節要 ký hiệu AC.442/1-20 do Bùi Huy Bích soạn trong đó có phần: Thi kinh đại toàn 696 trang 4 quyển ghi những điểm cốt yếu của Kinh Thi.        

3. Ngũ kinh xuyến châu tự 五經串珠序 ký hiệu A.1633 giới thiệu ý nghĩa mục đích và giá trị của Ngũ kinh.        

Với những gì mà sách Tam tự kinh đã dẫn ở trên ở nước ta Kinh Thi còn được dùng làm giáo trình giảng dạy trong các trường đại học từ trước tới nay và có lẽ còn mãi về sau.         

III. Ảnh hưởng của Kinh Thi trong văn chương chữ Nôm         

Theo sử  sách nước ta ngay từ thời nhà Hồ vua Hồ  Quý Ly đã cho dịch thiên Vô dật trong Kinh Thư dịch Kinh Thi và viết sách Thi Nghĩa bằng chữ Nôm (nhưng rất tiếc nay không còn nữa). Sang thế kỷ XVIII vua Quang Trung đã xuống chiếu sai Viện trưởng Sùng Chính viện là học giả La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp dịch Kinh Thi ra chữ Nôm khắc in năm Quang Trung 5 (1792). Số sách dịch hiện nay không còn nhưng những tờ chiếu về việc này thì vẫn còn được lưu giữ(6). Tuy nhiên GS. Nguyễn Quang Hồng đã phát hiện ra một bản Thi Kinh giải âm có niên đại sớm hơn tức là ván khắc năm Vĩnh Thịnh 10 nhà Lê (1714)(7) được lưu giữ ở kho sách Hán Nôm của Viện Văn học. Điều đó có thể thấy rằng ở nước ta Kinh Thi đã được diễn Nôm rất sớm và công phu. Qua thống kê sơ bộ trong kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm chúng tôi tập hợp được 6 bản. Cụ thể là:        

1. Thi kinh diễn âm 詩經演音 ký hiệu AB.137        

2. Thi kinh chính văn truyền chú diễn âm 詩經正文傳注演音 ký hiệu AB.169 diễn theo thể thơ lục bát và song thất lục bát.        

3. Thi kinh giải âm 詩經解音 in năm Quang Trung 5 (1792) ký hiệu AB.144/1-5 dịch và chú thích toàn bộ Kinh Thi bằng chữ Nôm.        

4 . Thi kinh Thư kinh quốc ngữ ca 詩經書經國語歌 ký hiệu AB.523       

5. Thi kinh Thư kinh quốc ngữ ca 詩經書經國語歌 ký hiệu AB.151       

6. Thi Kinh diễn nghĩa 詩經演義 ký hiệu AB.168/1-2 in năm Minh Mệnh 18 (1837)       

Ngoài ra trong Ba Thi quốc ngữ ca 葩詩國語歌 ký hiệu AB.360 còn có phần diễn Nôm 31 bài thơ trong Kinh Thi.         

Trong quá trình thâm nhập các văn bản diễn Nôm bộ sách Kinh Thi chúng tôi nhận thấy đây có thể coi là những bản dịch Kinh Thi tương đối chuẩn xác đáng để những dịch giả đời sau và chúng ta tham khảo học tập. Lấy sách Thi kinh chính văn truyền chú diễn âm để khảo sát chúng tôi sẽ đưa ra một số ví dụ để chứng minh điều đó.

Bài diễn Nôm Quan thư:

         Chim kêu trên bãi sông Hà

         Gái lành quân tử thật là  tốt đôi.

         Trước kia tìm chửa được ai

         So le hạnh thái ngược xuôi thuận dòng.

         Tìm chưa được mỏi mong cưu nhớ

         Dằng dặc thay trăn trở không yên.

         Rau hái được tay liền hái nấu

         Tìm được người tĩnh diệu mừng sao.

         Cầm sắt ngụ ý thân yêu

         Lại đem chuông trống dập dìu khua vui.        

Kinh Thi với tính chất là một loại hình ca dao cổ của Trung Quốc nên lời thơ lặp lại qua nhiều chương. Ở bản diễn Nôm này tác giả đã khúc triết lắp ghép rất tài tình ngắn gọn mà vẫn đầy đủ ý nghĩa. Ví dụ trong bài Đào yêu có 3 chương chương 1 đề cập đến hoa đào chương 2 quả đào chương 3 lá đào. Ở phần diễn Nôm chỉ cần 1 câu mà đã hội tụ được tất cả.        

Cây  đào non sắc tươi mơn mởn        

Hoa thịnh nhiều quả tốt đông.        

 Ả  kia về ở nhà chồng        

Hẳn rằng hiếu kính nên trong cửa nhà.

    Được đánh giá là tinh hoa của nhân loại Kinh Thi có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học nước ta đặc biệt là trong văn chương chữ Nôm (hay còn gọi là văn chương quốc âm). Với tính chất là loại văn chương sử dụng ngôn ngữ và thứ chữ dân tộc văn chương quốc âm phản ánh khá đầy đủ các mặt sinh hoạt trong cuộc sống của nhân dân. Các mặt sinh hoạt này hầu hết đều được phô diễn bằng cách mượn những điển tích những từ Hán lấy trong các thư tịch cổ Trung Quốc. Đó là một thực tế dễ hiểu vì dân tộc ta sống trong nghìn năm Bắc thuộc lại tiếp thu những ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc từ bao thế kỷ nay.

    Ở hầu hết các tác phẩm Nôm chúng ta đều thấy dấu ấn của Kinh Thi rất đậm nét: khi thì mượn ý tứ để sáng tác khi thì mượn nguyên vần có câu lấy 2 đến 3 hình ảnh trong Kinh Thi thậm chí có bài phú lấy hầu hết ý trong Kinh Thi để thể hiện ý đồ sáng tác. Tác giả văn Nôm vừa sử dụng câu chữ vừa sử dụng cấu tứ trong Kinh Thi để làm phong phú tác phẩm của mình.

    Chẳng hạn nói đến việc con gái đến tuổi cập kê  về nhà chồng văn Nôm có dùng các từ:  đào yêu đào non nghi gia gia thất mai phiếu hạnh thái... Nói đến công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ thường sử dụng các từ: cù lao chín chữ sinh ngã... Đây chưa phải là các từ đã ghi lại đầy đủ các yếu tố ngôn ngữ về những mặt này mà chỉ là những điển những chữ thường dùng khi nói về các việc đó nhưng nó lại mang tính chất tiêu biểu.        

Trong khuôn khổ của bài viết này chúng tôi chưa thể đưa ra hết tất cả những dẫn chứng cụ thể chỉ  xin đưa ra vài trường hợp nổi bật thường xuất hiện trên các tác phẩm văn học Nôm.        

+ Chữ  Đào yêu:        

 Đây là chữ trong bài Đào yêu thơ Quốc phong khen người con gái đến tuổi lập gia đình yên bề gia thất. Qua khảo sát một số văn bản Nôm chúng tôi nhận thấy chỉ riêng trong truyện Kiều đã có đến không dưới 7 lần hiện tượng đào yêu được xuất hiện. Ví dụ:        

- Quả  mai ba bảy đương vừa          

  Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.

Hay:         

- Những từ sen ngó đào tơ          

Mười lăm năm mới bây giờ là đây.        

 Ở  đây Thúy Kiều không phải mới đến tuần cập kê nhưng trải qua dâu bể mười lăm năm lưu lạc nàng mới bắt đầu được hưởng niềm hạnh phúc bình dị của người con gái đến tuổi gả chồng. Đại thi hào Nguyễn Du không phải không có lý khi dùng từ sen ngó đào tơ để gán cho Kiều khi nàng được tái sinh.        

Còn  ở Đại Nam quốc sử diễn ca ngay ở phần mở đầu đã có câu:        

Vụ  Tiên vừa thủa đào yêu        

Xe loan nối gót tơ điều kết duyên.        

Nói  đến người con gái đang độ cập kê đến tuổi gả chồng có thể nói không gì thay thế  được từ đào yêu và biến tự của nó như đào tơ đào non thơ đào... Nó quen thuộc đến mức khi các tác giả nước ta sáng tác nói đến con gái tuổi cập kê về nhà chồng hầu như không ai không thốt ra lời thơ gắn với những từ này.         

Ngoài ra trong một số tác phẩm khác như Nhị độ mai Phạm Tải Ngọc Hoa Liệt nữ truyện đều thấy nói đến đào yêu thơ đào...        

Chẳng hạn:         

- Thơ  đào ngợi chữ vu quy        

Ban thêm châu ngọc cho về thành thân. (Nhị độ mai)        

-  Nàng rằng từ thuở tương kỳ        

  Đào yêu hẹn ước kịp kỳ nghi gia. (Liệt nữ truyện)        

Hay ở  một số bài phú Nôm chữ đào yêu cũng được sử dụng hết sức hữu tình:        

Nay: Vừa thủa đào yêu        

Chưng khi nguyệt dãi. (Tất kính tất giới vu vi phu tử phú)        

- Chẳng thấy chữ đào yêu mà liệu        

 Ắt  đến câu mai phiếu hẳn rồi. (Dục giá phú)        

Trong những ví dụ nêu trên chúng ta thấy có câu tác giả  mượn trọn ý tứ trong Kinh Thi để thể hiện như hình tượng Quả mai ba bảyĐào non hay Đào yêuMai phiếu (trong bài Phiếu hữu mai). Có thể nói dấu ấn Kinh Thi đậm nét trong tứ thơ làm cho câu thơ thêm xúc tích và truyền cảm.        

+ Chữ  Lân chỉ: Gót lân        

 Đây là chữ trong bài Lân chi chỉ trong thơ Quốc phong ý khen con lân hiền lành nhân hậu nên chân của nó cũng nhân hậu qua đó hàm ý khen ngợi gia đình và họ hàng có con cháu dòng dõi hiền tài đức độ. Hình tượng này xuất hiện trong những tác phẩm có nói đến việc sinh ra được con cháu thảo hiền nhưng một mặt nào đó cũng khẳng định đẳng cấp con nhà danh giá tông tộc.         

- Đông hàng lông phượng gót lân        

Kìa nhà  ngũ quế nọ sân bát đồng (Nhị độ mai)        

- Cơ  đồ vững đặt muôn năm        

Chung tư   lân chỉ sinh trăm mối ngàn. (TNC)        

- Trăm năm biết mấy tinh thần        

  Sinh con sau nối gót lân đời đời. (Lục Vân Tiên)         

- Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm         

 Đầu mũ mao mình tấm áo da. (Ai tư vãn)       

  - Thưa rằng cảm nỗi dây dưa        

 Đoái câu lân chỉ nhà chưa phỉ nguyền. (Dương Từ Hà Mậu)...        

Có thể  nói việc sử dụng điển tích đã làm cho tác phẩm sang lên. Hơn nữa việc sử dụng đúng lúc đúng chỗ càng làm cho giá trị của tác phẩm được đẩy lên cao và càng thể hiện được sự uyên bác của tác giả đã sản sinh ra nó.        

+ Chữ  Thuyền bách:        

Vốn dịch nghĩa từ chữ Bách chu trong bài Bách chu trong thơ Bội phong: Phiếm bỉ bách chu diệc phiếm kỳ lưu nghĩa là:         

Chiếc thuyền gỗ bách chơi vơi        

Xuôi theo dòng nước nổi trôi mặc lòng.        

Với  ý tứ như vậy văn Nôm mượn hình tượng này để miêu tả thân phận người con gái long đong trải qua dâu bể không biết về nơi đâu hoặc quá tuổi cập kê nhỡ thì chẳng biết nương về chốn nào.         

- Lênh đênh thuyền bách         

Lục cục sào mai. (Nữ tử quá thì tự hối phú)        

- Nàng rằng chiếc bách sóng đào        

 Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may. (Truyện Kiều)        

- Quản bao một chiếc bách châu        

Lênh đênh giữa vực mặc dầu mây mưa. (Dương Từ Hà Mậu)        

v.v.        

Trên  đây chỉ là một số dẫn chứng tiêu biểu thường được sử dụng trong những sáng tác thơ Nôm ca Nôm truyện Nôm. Ngoài ra trong thể văn Nôm biền ngẫu như văn tế hịch... chúng ta cũng tìm thấy các tác giả sử dụng ngữ liệu trong Kinh Thi.        

Theo đánh giá của học giả Dương Quảng Hàm thì  Kinh Thi là “một kho điển tích” mà càng khai thác càng thấy phong phú vô tận. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một đoạn của bài phú Nôm chép trong gia phả họ Nguyễn - Thanh Mục đường ở Thanh Trì Hà Nội(8) để minh hoạ thêm cho nhận định này. Nội dung bài phú lấy nhiều cứ liệu trong Kinh Thi để sáng tác. Đó là bài phú về bà Trang Khương. Trong đó có những câu như:         

- Mở  quyển Bội phong một quyển        

Khen bà  Khương Thị đàn bà.        

Hay:        

 “Kìa  Đái Quy là thê thiếp mà Khương Thị là  phu nhân duyên kiều cát đã rành rành phiên gác rộng;         

Nọ  Trang Công là tiên công mà Hoàn Công là kỷ  tử tiếng cư hành từng thăm thẳm chốn lầu cao”.         

Nguyên nghĩa trong thơ Bội phong nàng Đái Quy là thiếp còn Khương Thị là phu nhân nhưng lại không được vua Trang Công báo đáp ân tình. Nàng Đái Quy hiền thục lấy lòng tưởng nhớ tiên quân để khuyên Khương Thị gượng gắng khiến cho bà thường nhớ đến để vững vàng tâm chí. Bài thơ vì thế mà đôn hậu. Ý tứ của bài thơ đã được tác giả bài phú tiếp nhận để hình thành sáng tác răn dạy cháu con lấy làm gương mẫu mực để giáo huấn. Vì thế mà Kinh Thi được đề cao ca ngợi: Lấy việc chính đáng đức nhân mà tu thân lấy việc dâm tà lả lơi mà răn mình xa lánh.        

Kết luận        

Theo nhận xét của GS. Thạch Giang: “Điển cố và chữ  sách sử dụng trong văn bản Nôm xét về mặt ngôn ngữ học thì đều là những giá trị đã định hình và đã thể nghiệm được ghi chép trong sử sách. Nó đã được phổ biến và trở thành mẫu mực”. Vì vậy khi tìm hiểu về dấu ấn Kinh Thi trong văn chương chữ Nôm chúng tôi muốn phần nào khẳng định giá trị của những tác phẩm kinh điển bất hủ đang được lưu truyền từ ngàn đời xưa đến nay. Mặt khác chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng thế hệ chúng ta ngày nay nên biết học hỏi tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm phong phú cho nền văn học nước nhà.

Chú  thích:

  (1) Xem Văn tâm điêu long bản dịch của Phan Ngọc Nxb. Văn học 1997.

  (2) Xem Ngữ văn Hán Nôm tập 2 Ngũ Kinh tr.87. Trần Lê Sáng chủ biên.

  (3) Lê Quý Đôn Vân đài loại ngữ tập 1 tr.31 bản dịch Nxb. Văn hóa 1962.

  (4) Lê Quý Đôn Vân đài loại ngữ tập 1 tr.251 bản dịch. Nxb. Văn hóa 1962.

  (5) Lê Quý Đôn Vân đài loại ngữ tập 2 tr.103 bản dịch. Nxb. Văn hóa 1962.

  (6) Xem: Hoàng Xuân Hãn La Sơn phu tử Nxb. Minh Tân H. 1950.

  (7) Xem: Nguyễn Quang Hồng... Thi Kinh giải âm văn bản sớm nhất hiện còn khắc in năm Vĩnh Thịnh 1714 Tạp chí Hán Nôm số 3/2005.

  (8) Xem Gia phả họ Nguyễn-Thanh Trì Đỗ Thị Bích Tuyển Nguyễn Thị Dương dịch Nguyễn Hữu Tưởng hiệu đính. Tư liệu hiện được lưu giữ ở Thư viện Hán Nôm.

Tài liệu tham khảo:

  [1]Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu PGS. Trần Nghĩa đồng chủ biên Nxb. KHXH H. 1993.

  [2]Điển nghĩa văn học Nôm Việt Nam Nxb. Từ điển bách khoa 2002.

  [3]Kinh Thi Nxb. Văn học 2004.

  [4]Ngữ văn Hán Nôm tập 1-2 Trần Lê Sáng chủ biên Nxb KHXH H. 2002.

  [5]Từ ngữ điển cổ văn học Nxb. Văn học 1999.

  [6]Từ ngữ văn Nôm Nxb. KHXH H. 1993.

  [7]Thư tịch Hán Nôm Việt Nam luận giải về Tứ thư và Ngũ kinh hiện có ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm Trịnh Khắc Mạnh Tạp chí Hán Nôm số 1/2005.

  [8]Truyện Kiều Nguyễn Thạch Giang phiên âm chú giải Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp 1976.

  [9]Việt Nam văn học sử yếu Dương Quảng Hàm Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp 1993./.

                                Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.643-654)

 

 

More...

Nguồn gốc Kinh Thi.

By

Nguồn gốc Kinh Thi

Kinh Thi là một bộ  sách gồm có những câu ca dao rất cổ của Trung Hoa. Ngày xưa Thiên tử cứ năm năm đi tuần thú một lần và ra lệnh cho quan Thái sư hiến dâng ca dao để xem phong tục của dân. Chư hầu nhặt những câu thi ca ấy để hiến lên Thiên tử Thiên tử tiếp nhận và liệt vào nhạc quan lấy cái đó để xét phong tục tốt hay xấu biết việc chính trị nên hư.

Theo lời dẫn trên thì  những bài ca dao trong Kinh Thi đã được sưu tập trước thời Khổng Tử. Nguyên nhan đề là Thi chứ không có chữ Kinh. Người ta thêm chữ ấy vì cho rằng cho Kinh Thi được Khổng Tử san định.

[sửa] Khổng Tử và Kinh Thi

Thiên Khổng Tử thế gia trong Sử ký của Tư Mã Thiên có chép:

    Tam bách ngũ  thiên Khổng Tử giai huyền ca chi dĩ  cầu hợp Thiều Vũ Nha Tụng chi âm.

    (Khổng Tử đã  đem 305 thiên trong Kinh Thi ra mà đàn ca để hợp với âm của Thiều Vũ Nhã Tụng.)

Thiên tử hãn trong Luận ngữ cũng có dẫn lời của Khổng Tử:

    Ngô  tự Vệ phản Lỗ nhiên hậu nhạc chính Nhã  Tụng các đắc kỳ sở.

    (Ta từ nước Vệ  trở về Lỗ nhiên hậu nhạc mới được chỉnh đốn lại Nhã Tụng được đặt đúng chỗ.)

Như vậy Khổng Tử  đã từng nghiên cứu âm nhạc và đem thi ca phổ thành nhạc khúc. Việc Khổng Tử san định Kinh Thi cũng có thấy chép trong thiên Khổng Tử thế gia của sách Sử ký:

    Cổ  giả Thi tam thiên dư  thiên cập chí Khổng Tử khứ  kỳ trùng thủ khả  thi ư lễ nghĩa thượng thái Tiết Hậu Tắc trung thuật Ân Chu chi thịnh chí  U Lệ chi khuyết... tam bách ngũ thiên.

    (Ngày xưa Thi có  hơn ba ngàn thiên Khổng Tử san khứ phần trùng phúc chỉ lấy những thiên hợp với lễ nghĩa trước nhặt các bài từ đời Tiết Hậu Tắc kế  đến các bài thuật sự hưng thịnh đời Ân Chu sau là các bài nói về sự khuyết điểm của U vương và Lệ vương... gom có ba trăm lẻ năm thiên.)

Lục Đức Minh trong Kinh điển thích văn cũng viết:

    Khổng Tử  tối tiên san lục ký thủ  Chu thượng kiêm Thương tụng phàm tam bách thập nhất thiên.

    (Khổng Tử san lục Kinh Thi trước hết chọn lấy những bài về đời Chu lại lấy cả những bài Thương tụng phàm ba trăm mười một thiên.)

Người ta thường vịnh vào các thuyết trên này để cho rằng Khổng Tử  có san định Kinh Thi. Tuy nhiên một số học giả như Khổng Dĩnh Đạt Trịnh Tiều Chu Hy Chu Di Tôn Thôi Thuật... vẫn còn hoài nghi việc đó vì Khổng Tử chưa bao giờ nói đến việc mình san định Kinh Thi. Vả lại Thi có hơn ba ngàn thiên Khổng Tử chỉ chọn lấy ba trăm thiên vậy là bỏ đi chín phần mười chẳng khác nào phá họai một kho tàng văn học phong phú thời cổ. Hơn nữa Sử ký của Tư Mã Thiên tuy có nói đến việc Khổng Tử san định Thi nhưng cũng cho ta biết rằng trong thời Xuân Thu thi ca bị tàn khuyết rất nhiều. Vì thế cho nên trong Độc phong ngẫu chí Thôi Thuật đã biện minh việc Khổng Tử san Thi như sau:

    Khổng Tử  san thi thục ngôn chi? Khổng Tử  vị thường tự ngôn chi dã Sử  ký ngôn chi nhĩ Khổng Tử  viết: "Trịnh thanh dâm" thị Trịnh dâm thi dã. Khổng Tử viết: "Tụng Thi tam bách" thị chi hữu tam bách Khổng Tử vị thường san dã. Học giả bất tín Khổng Tử sở tự ngôn nhi tín tha nhân chi ngôn thậm hỹ kỳ khả quái dã!

    (Ai bảo Khổng Tử  có san định Kinh Thi? Việc đó thấy chép trong Sử ký chứ Khổng Tử chưa khi nào nói đến. Khổng Tử nói: "Tiếng nước Trịnh dâm" ấy là nước Trịnh có nhiều thi ca dâm dật. Khổng Tử nói: "Đọc Thi ba trăm thiên" ấy là Thi có ba trăm thiên chứ Khổng Tử chưa từng san định. Học giả không tin lời Khổng Tử mà tin lời người khác thật là điều quái gở!)

Cho nên có thể  tin rằng những bài thi ca xưa đến thời Khổng Tử  bị tàn khuyết rất nhiều chỉ còn lại chừng ba trăm thiên. Nếu Khổng Tử có chỉnh lý Kinh Thi thì cũng chỉ bớt những câu tối nghĩa hoặc rườm rà chứ không phải chọn lấy một phần mười như Tư Mã Thiên đã viết.

[sửa] Các bản Kinh Thi

Về đời nhà Hán có bốn bản Kinh Thi xuất hiện:

  1. Lỗ Thi do Thân Bồi người nước Lỗ chú giải.
  2. Tề Thi do Viên Cố Sinh người nước Tề chú giải.
  3. Hàn Thi do Hàn Anh chú giải.
  4. Mao Thi do Mao Công (tức Mao Hanh và Mao Trường) chú giải.

Ba bản Lỗ Thi Tề ThiHàn Thi là kim văn còn bản của Mao Công là cổ văn. Về sau Lỗ Thi mất về đời nhà Tần Tề Thi mất về đời nhà Ngụy Hàn Thi mất về đời Ngũ đại chỉ còn Mao Thi còn truyền đến ngày nay.

[sửa] Nội dung Kinh Thi

Kinh Thi gồm có 311 thiên. Trong số đó chỉ có 305 thiên là đầy đủ còn 6 thiên kia chỉ có đề mục nhưng không có lời. Theo bản Mao Thi Kinh Thi gồm có ba phần như sau:

[sửa] Quốc phong

Quốc phong là những bài ca dao của dân tộc các nước chư hầu đuợc nhạc quan sưu tập. Quốc phong có 160 thiên chia làm 15 quyển mỗi quyển một nước gồm có:

  1. Chính phong: Chu nam và Thiệu nam.
  2. Biến phong: Bội phong Dung phong Vệ phong Vương phong Trịnh phong Tề phong Ngụy phong Đường phong Tần phong Cối phong Tào phong Mân phong.

[sửa] Nhã

Nhã nghĩa là chính đính gồm những bài hát nơi triều đình. Nhã chia ra làm 2 phần:

  1. Tiểu nhã: những bài dùng trong trường hợp không quan trọng lắm như các buổi yến tiệc (74 thiên).
  2. Đại nhã: những bài dùng trong trường hợp quan trọng như khi Thiên tử hợp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường (31 thiên).

[sửa] Tụng

Tụng nghĩa là ngợi khen gồm những bài ca tụng các vua đời trước và dùng để hát ở chốn miếu đường. Tụng có tất cả 40 thiên chia làm:

  1. Chu tụng: 31 thiên.
  2. Lỗ tụng: 4 thiên.
  3. Thương tụng: 5 thiên.

Trong Kinh Thilục nghĩa là: Phong Nhã Tụng phú tỷ hứng. Phong Nhã Tụng là trỏ bộ phận của âm nhạc còn phú tỷ hứng tức là các thể của Phong Nhã Tụng.

Ba thể phú tỷhứng nói về kỹ thuật làm thơ. Chỉ rõ tên nói rõ việc ấy là phú. Thấy việc hư hỏng đương thời mà không dám nói rõ dùng phép so sánh kín đáo để phóng thích ấy là thể tỷ. Mượn vật để nói nên lời là thể hứng. Sự bất đồng giữa tỷhứng do ở điểm này: thể tỷ chỉ lấy vật làm tỷ dụ chứ không nói rõ ý chính thể hứng thì trước hết dùng phép tỷ dụ rồi nói rõ ý chính ra.

Thế là nội dung Kinh Thi gồm có ba phần lớn (Phong Nhã Tụng) và ba thể (phú tỷ hứng) mà cổ nhân đã gọi là sáu nghĩa của Kinh Thi. Riêng về Phong Nhã Tụng tuy có nhiều định nghĩa khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi học giả nhưng có thể thừa nhận cách phân lọai trong Mao Thi là tương đối hợp lý.

[sửa] Các thiên của Kinh Thi

Kinh thi có 311 thiên gồm 3 quyển: Thượng Trung Hạ. Quyển Thượng chép thơ Quốc phong quyển Trung gồm Đại nhãTiểu nhã và quyển Hạ là phần thơ Tụng.

[sửa] Thơ Quốc Phong

Gồm 159 thiên:

[sửa] Chu Nam

Có 11 thiên:

  1. Quan thư: Chồng nhớ vợ.
  2. Cát đàm: Phận sự người vợ lo dệt vải.
  3. Quyền nhỉ: Vợ nhớ chồng.
  4. Nam hữu cù mộc: Chúc người quân tử.
  5. Chung tư: Chúc đông con.
  6. Đào yêu: Khen thục nữ lập gia đình.
  7. Thố tứ: Khen người có tài cán.
  8. Phù dĩ: Phụ nữ an nhàn đi hái trái.
  9. Hàn quảng: Khen phụ nữ đã trở lại đoan trang được người kính nể.
  10. Nhữ phần: Vợ nhớ chồng vẫn trung thành.
  11. Lân chi chỉ: Khen tặng dòng dõi của Văn vương.

[sửa] Thiệu Nam

Có 14 thiên:

  1. Thước sào: Khen tặng người con gái chư hầu được lấy chồng.
  2. Thái phiên: Khen tặng vợ chư hầu lo việc cúng tế.
  3. Thảo trùng: Vợ quan đại phu ở nhà một mình mà nhớ chồng.
  4. Thái tần: Khen tặng vợ quan đại phu lo việc cúng tế.
  5. Cam đường: Kính giữ di tích của Thiệu Bá.
  6. Hành lộ: Con gái lấy lẽ giữ mình mà cự tuyệt người con trai vô lễ.
  7. Cao dương: Khen quan lại y phục bình thường dáng thảnh thơi tự đắc.
  8. Ẩn kỳ lôi: Vợ nhớ chồng mong chồng mau trở về.
  9. Biểu hữu mai: Con gái lo được gả kịp thời.
  10. Tiểu tinh: Phận thiếp được hầu hạ vua.
  11. Giang hữu tự: Vợ chính rước các hầu thiếp đi theo.
  12. Dã hữu tử khuân: Lời người con gái chế giễu người yêu.
  13. Hà bỉ nùng hĩ: Khen con gái nhà Chu cung kính hòa thuận đi lấy chồng.
  14. Trâu ngu: Chư hầu đi săn có nhân đạo.

[sửa] Bội Phong

Gồm 19 thiên:

  1. Bách chu: Tình cảnh người vợ cả bị bỏ rơi.
  2. Lục y: Tình cảnh vợ chính bị lạnh lùng còn hầu thiếp được thân mến.
  3. Yến yến: Vợ chính thương nhớ đưa tiễn nàng hầu thiếp về quê.
  4. Nhật nguyệt: Lời than thở của người vợ bị phụ phàng.
  5. Chung phong: Cảnh người vợ sống với người chồng cuồng si ngu dại.
  6. Kích cổ: Nỗi lòng người lính chiến phải xa cách vợ nhà.
  7. Khải phong: Lời con tự trách không khéo thờ mẹ để mẹ đi tái giá.
  8. Hùng trĩ: Vợ nhớ tưởng chồng đang đi làm ở xa.
  9. Bào hữu khổ diệp: Lời than của người bị gò bó tình yêu.
  10. Cốc phong: Nỗi lòng người vợ bị chồng đuổi đi.
  11. Thức vi: Lời của bề tôi trách vua chịu hèn hạ nương tựa nước ngoài.
  12. Mao khâu: Kẻ lưu vong trách nước ngoài không chịu tiếp cứu.
  13. Giản hề: Lời người hiền bất đắt chí chịu làm chức phận khiêm nhường.
  14. Tuyền thủy: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở nước xa nhớ nhà muốn trở về.
  15. Bắc môn: Cảnh nghèo khó của quan lại thời loạn.
  16. Bắc phong: Nước sắp loạn rủ nhau đi tỵ nạn.
  17. Tĩnh nữ: Lời ước hẹn tình yêu.
  18. Tân đài: Nỗi lòng người con gái gặp ông chồng hèn hạ loạn luân.
  19. Nhị tử thừa chu: Lời thương xót hai anh em giành nhau cái chết.

[sửa] Dung phong

Có 10 thiên:

  1. Bách chu: Lời người góa phụ thủ tiết.
  2. Tường hữu từ: Chê dâm ô trong bọn vua chúa.
  3. Quân tử giai lão: Tả dung sắc người đẹp mà kém đức hạnh.
  4. Tang trung: Lời ước hẹn tình yêu.
  5. Thuần chi bôn bôn: Lời trách kẻ loạn luân dâm ô.
  6. Đính chi phương tring: Khen vua chăm lo xây dựng quốc gia.
  7. Đế đống: Lời gái đi tìm người yêu.
  8. Tướng thử: Lời châm biếm kẻ vô lễ thiếu uy nghi.
  9. Can mao: Việc quan chức biết thăm viếng người hiền.
  10. Tái trì: Lời người con gái nóng lòng về thăm nước đã mất.

[sửa] Vệ phong

Có 10 thiên:

  1. Kỳ úc: Lời khen tặng vua tiến ích việc tu thân.
  2. Khảo bàn: Tình cảnh người hiền ở ẩn.
  3. Thạc nhân: Tả người đẹp và quyền quý được rước dâu.
  4. Manh: Lời người con gái trách người yêu phụ bạc.
  5. Trúc can: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở xa nhớ nhà.
  6. Hoàn lan: Lời châm biếm vua còn nhỏ mà tự kiêu.
  7. Hà quảng: Nhớ quê chồng.
  8. Bá hề: Nỗi lòng nhớ chồng.
  9. Hữu hồ: Nỗi lòng người quả phụ muốn tái giá.
  10. Mộc qua: Lời tặng đáp để kết giao với nhau.

[sửa] Vương phong

Có 10 thiên:

  1. Thử ly: Nỗi cảm xúc thời xưa đã điêu tàn.
  2. Quân tử vu vi: Nỗi nhớ chồng đi làm xa.
  3. Quân tử dương dương: Cảnh thanh nhã khi chồng về xum họp.
  4. Dương chi thủy:Nỗi lòng người lính đóng đồn ở xa nhớ vợ.
  5. Trung cốc hữu thôi: Lời than thở của người vợ bị đuổi bỏ.
  6. Thố viên: Nỗi lòng của người quân tử gặp thời loạn không vui sống.
  7. Cát lũy: Lời than thở của người dân trôi nổi trong thời loạn lạc.
  8. Thái cát: Tưởng nhớ tha thiết tình nhân.
  9. Đại xa: Đắm đuối yêu nhau nhưng còn sợ pháp luật không dám bày tỏ.
  10. Khâu trung hữu ma: Lời giễu yêu của cô gái khi tình nhân không đến.

[sửa] Trịnh phong

Gồm 20 thiên:

  1. Tri y: tình của nhân dân mến đãi quan hiền tài.
  2. Thương Trọng tử: bị gò bó cô gái dặn người yêu không nên đến nhà tìm.
  3. Thúc vu điền: lời khen tặng Cung Thúc Đoạn.
  4. Thanh nhân: tình cảnh quân đội rã rời nhụt chí chiến đấu.
  5. Cao cầu: lời khen tặng quan chức không đổi thay tiết tháo.
  6. Tuân đại lộ: người con gái trách chồng ruồng bỏ.
  7. Nữ viết kê mình: Vợ thương chồng lo phụng sự chồng chu đáo.
  8. Hữu nữ đồng xa: tả người con gái đẹp đi chung xe.
  9. Sơn hữu phù tô: lời con gái đang yêu trêu ghẹo tình nhân.
  10. Thác hề: người con gái nhiệt tình tỏ ý mời trai cùng ca hát nhảy múa.
  11. Giảo đồng: lời đùa giỡn giữa cô gái với người yêu.
  12. Khiên thường: lời cô gái vui đùa với người yêu.
  13. Phong: cô gái hối hận không đưa người yêu.
  14. Đông môn chi thiêu: cô gái tỏ tình với người yêu.
  15. Phong vũ: cô gái hả hê khi gặp người yêu.
  16. Tử khâm: cô gái mong nhớ người yêu.
  17. Dương chi thủy: khuyên gười yêu giữ trọn niềm tin giữa hai người.
  18. Xuất kỳ đông môn: lòng trung thành mến thương vợ.
  19. Dã hữu man thảo: trai gái gặp nhau và cũng vừa lòng thích ý.
  20. Trân vĩ: trai gái thừa dịp dạo chơi để trao ân tình.

[sửa] Tề phong

Gồm 11 thiên:

  1. Kê minh: lời người hiền phi khuyên vua dậy sớm.
  2. Tuyền: lời châm biếm vua quan ham săn bắn mà quên việc chính trị.
  3. Trử: chàng rể chờ rước cô dâu.
  4. Đông phương chi nhật: trai gái yêu nhau hoà thuận với nhau.
  5. Đông phương vị minh: lời châm biếm quan coi tính giờ sai.
  6. Nam Sơn: lời châm biếm bọn vua chúa anh em thông dâm.
  7. Phủ điền: lời khuyên chớ dục tốc mà bất đạt.
  8. Lô linh: lời khen tặng vua đi săn.
  9. Tệ cẩu: châm biếm người đàn bà loạn luân được tự do trở về thông dâm với anh ruột.
  10. Tái khu: châm biếm người đàn bà thông dâm với anh ruột.
  11. Y ta: khen Lỗ Trang Công đủ tài mà không ngăn được mẹ.

[sửa] Ngụy phong

Gồm 7 thiên:

  1. Cát cú: châm biếm người keo kiệt.
  2. Phần tứ nhu: châm biếm người cần kiệm không trúng lễ.
  3. Viên hữu đào: nỗi lo buồn của người hiểu biết với thời cuộc bấy giờ.
  4. Trắc hộ: nỗi lo buồn của cha mẹ anh em người đi quân dịch.
  5. Thập mẫu chi gian: chính trị hỗn loạn người hiền lo trở về ở ẩn.
  6. Phạt đàn: người quân tử chẳng chịu ngồi không mà hưởng.
  7. Thạc thử: dân chúng hận vua bội bạc mới bỏ đi nơi khác.

[sửa] Đường phong

Gồm 11 thiên:

  1. Tất suất: lời răn cũng nên vui chơi nhưng không nên thái quá phải lo công việc của mình.
  2. Sơn hữu xu: ai rồi cũng chết nên cũng nên vui chơi.
  3. Dương chi thủy: dân chúng chở che ủng hộ người quân tử dựng nước.
  4. Tiêu liêu: khen tặng cây tốt trái nhiều.
  5. Trù mậu: lời trai gái mừng rỡ vì được thành vợ chồng.
  6. Đệ đỗ: lời than trách của người không anh em mà cũng không được ai giúp đỡ.
  7. Cao cầu:lời than phiền quan lại hống hách không ưa dân.
  8. Vô y: lời kiêu ngạo của kẻ soán ngôi mà trở nên danh chính ngôn thuận do hối lộ.
  9. Hữu đệ chi đỗ: vua mong hậu đãi bậc hiền tài.
  10. Cát sinh: lời chung thủy của người vợ lính quân dịch mong nhớ chồng.
  11. Thái linh: chớ nghe gièm pha.

[sửa] Tần phong

Gồm 10 thiên:

  1. Xa lân: tìm được vua đáng thờ.
  2. Tứ thiết: vua tôi hòa hiệp cùng đi săn bắn.
  3. Tiểu nhung: chinh phụ khen nhớ chồng.
  4. Kiêm gia: đi tìm người hiền.
  5. Chung Nam: lời dân khen tặng vua mình.
  6. Hoàng điểu: dân thương tiếc người có tài mà bị chôn sống theo vua.
  7. Thần phong: vợ nhớ chồng vắng nhà.
  8. Vô y: binh sĩ thương nhau lo việc chiến đấu.
  9. Vị dương: tiễn người cậu ra đi.
  10. Quyền dư: lời than của người hiền lần lần bị bạc đãi.

[sửa] Trần phong

Gồm 10 thiên:

  1. Uyển khâu: người hoang đãng múa hát vui chơi.
  2. Đông môn chi phần: trai gái tụ hợp múa hát trao ân tình.
  3. Hoàng môn: người ở ẩn dễ tính sống thế nào cũng được.
  4. Đông môn chi trì: trai gái nói chuyện mà hiểu lòng nhau.
  5. Đông môn chi dương: trai gái hẹn mà không gặp.
  6. Mộ môn: kẻ ác được cảnh cáo mà không biết hối cãi.
  7. Phong hữu thước sào: lo buồn vì người yêu bị kẻ khác lừa bịp.
  8. Nguyệt xuất: nhớ người đẹp mà lòng ưu sầu.
  9. Tru Lâm: châm biếm vua thông dâm với vợ quan.
  10. Trạch bì: đau đớn nhớ thương mà không được gặp người yêu.

[sửa] Cối phong

Gồm 4 thiên:

  1. Cao cầu: thương vua không lo chính trị chỉ lo đẹp đẽ quần áo.
  2. Tố quan: mong mỏi thấy lại tang phục đời xưa.
  3. Thấp hữu trường sở: dân chúng quá thống khổ than thở không bằng loại cỏ cây.
  4. Phỉ phong: lòng bi thương nhớ đến nhà Chu tàn hạ.

[sửa] Tào phong

Gồm 4 thiên:

  1. Phù du: ngao ngán người đời ham mê vật chất mà muốn trở về ở yên.
  2. Hậu nhân: lời châm biếm đứa tiểu nhân được làm quan to.
  3. Thi cưu: khen tặng người quân tử chuyên nhất công bình đủ tài đức trị yên thiên hạ.
  4. Hạ tuyền: thương tiếc nhà Chu không còn cường thịnh như xưa.

[sửa] Bân phong

Gồm 7 thiên:

  1. Thất nguyệt: những công việc phải làm quanh năm của nhân dân.
  2. Xi hiêu: chim tận tụy bảo vệ ổ qua cơn giông bão.
  3. Đông Sơn: tình cảnh khi chinh chiến trở về.
  4. Phá phủ: quân sĩ khổ nhọc nhưng vẫn kính mến chủ tướng.
  5. Phạt kha: việc gì cũng có đường lối noi theo.
  6. Cửu vực: dân mến tiếc Chu công.
  7. Lang bạt: thái độ ung dung của Chu công.

[sửa] Nhã

[sửa] Tiểu Nhã

  1. Lộc minh: Đãi đằng tân khách để vua tôi quyến luyến nhau.
  2. Tứ mẫu: Nỗi lòng của bề tôi vì việc vua sai mà không phụng dưỡng được cha mẹ.
  3. Hoàng hoàng giả hoa: Bề tôi lo công việc của vua sai.
  4. Thường đệ: Anh em vợ con thì bao giờ cũng quý hơn bạn hữu.
  5. Phạt mộc: Tìm bạn bè hậu đãi bạn bè.
  6. Thiên bảo: Lời của bề tôi cúc tụng vua.
  7. Thái vi: Nỗi lòng người chiến sĩ lúc ra đồn thú và lúc trở về.
  8. Xuất xa: Quân đội đi và trở về sau khi thắng trận.
  9. Đệ đồ: Vợ mong chồng đi quân dịch mau trở về.
  10. Nam cai: (không có lời thơ).
  11. Bạch hoa: (không có lời thơ).
  12. Hoa thử: (không có lời thơ).
  13. Ngư ly: Các món để ăn uống đãi khách rất nhiều và ngon.
  14. Do canh: (không có lời thơ).
  15. Nam hữu gia ngư: Món ăn vật uống ngon lành đem ra đãi khách.
  16. Sùng khâu: (không có lời thơ).
  17. Nam sơn hữu đài: Lời chủ nhân chúc tụng tân khách.
  18. More...