Tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam thời trung đại - từ góc nhìn phiên dịch Hán Nôm.

Tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam thời Trung đại

Từ góc nhìn phiên dịch Hán Nôm 
ThS. Nguyễn Tuấn Cường 
Khoa Văn học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Đại học Quốc gia Hà Nội

 
 
       Trong bài viết này căn cứ trên phạm vi tư liệu sử dụng là (những ghi chép về) 04 tác phẩm Kinh Thi chữ Nôm hiện không/ chưa tìm thấy và 08 tác phẩm 19 văn bản 31 kí hiệu sách với tổng số 5.368 trang tư liệu về Kinh Thi chữ Nôm hiện còn lưu giữ người viết thử phác họa một cái nhìn về vấn đề tiếp nhận Kinh Thi qua phiên dịch Hán Nôm từ góc nhìn phiên dịch học (phiên dịch học với tư cách là một hoạt động giao tiếp liên văn hóa([1])) và góc nhìn lịch sử văn hóa. Trên cơ sở đó bài viết sẽ sơ bộ tìm hiểu ba vấn đề: một là lược sử phiên dịch Kinh Thi tại Việt Nam thời Trung Đại hai là cách xử lí của các bản dịch với thứ ngôn ngữ phân tích tính cao của Kinh Thi và ba là thiên hướng tiếp nhận Kinh Thi của các bản dịch là văn học hay kinh học. Bởi trong số những dịch phẩm kể trên có một số dịch phẩm chỉ dịch hết 160 thiên phần Quốc Phong nên những khảo sát trong bài viết cũng tạm thời giới hạn trong độ dài đó.

Từ theo chốt (key words): Kinh Thi chữ Nôm tiếp nhận phiên dịch 

        1. Lược sử phiên dịch Kinh Thi tại Việt Nam thời Trung Đại([2])

        Trong phiên dịch phương Tây “Eric Jacobsen khẳng định một cách khá bao quát rằng phiên dịch là một sáng tạo của người La Mã cổ đại”([3]) nhưng phải đến đầu thế kỉ 16 phương Tây mới xuất hiện những nhà nghiên cứu lí thuyết phiên dịch thực thụ tiêu biểu là nhà nhân văn học người Pháp Etienne Dolet (1509 - 1546) với việc đề xuất 5 nguyên tắc cho dịch giả trong tác phẩm La manière de bien traduire d une langue en aultre (Làm sao để dịch cho tốt từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác)([4]). Đến cuối thế kỉ 20 phiên dịch học đã xác định được một vị trí không thể phủ nhận của một ngành khoa học với sự ra đời liên tiếp của hai bộ bách khoa thư Encyclopedia of Translation Studies (Bách khoa toàn thư phiên dịch học 1998) và Encyclopedia of  Literary Translation into English (Bách khoa toàn thư phiên dịch văn chương sang Anh ngữ 2000)([5]).

         Ở Trung Quốc mặc dù phiên dịch nước này chỉ nở rộ từ phong trào dịch kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Hán bắt đầu với cuốn Minh độ ngũ thập hiệu kế kinh do An Thế Cao dịch vào năm thứ nhất niên hiệu Nguyên Gia đời Hán Hoàn đế (năm 151)([6]) và phát triển mạnh mẽ ở thời Cưu Ma La Thập([7]) nhưng ngay từ thời Tây Hán trong tác phẩm Sử kí ở nhiều thiên khi sử dụng tư liệu từ Kinh Thư Tư Mã Thiên đã “dịch” một phần thứ văn ngôn trong Kinh Thư ra tiếng Hán thời Tây Hán([8]).

Ở Việt Nam có một số ghi chép mang tính huyền sử về việc phiên dịch trong xã hội xưa như Bạch trĩ truyện trong Lĩnh Nam chích quái chép: “Vào thời Chu Thành Vương vua Hùng Vương sai bề tôi xưng là họ Việt Thường đem trĩ trắng sang dâng biếu nhà Chu. Vì ngôn ngữ bất đồng Chu Công phải sai người qua mấy lần dịch rồi mới biết”([9]). Tư liệu đáng tin cậy về phiên dịch (dịch viết) sớm nhất ở Việt Nam có lẽ là những thông tin từ trong Thiền uyển tập anh với lời Thông Biện Quốc Sư trích lời Đàm Thiên Pháp Sư đáp Tùy Cao tổ: “Một phương Giao Châu đường thông Thiên Trúc Phật pháp lúc mới tới thì Giang Đông chưa có mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi độ tăng hơn 500 người dịch kinh 15 quyển vì nó có trước vậy”([10]). Có thể hiểu phiên dịch ở đây là dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán bởi khi ấy nước ta chưa có một văn tự riêng thành thục. Phong trào dịch kinh Phật vẫn tiếp tục diễn ra ở Việt Nam và chắc hẳn đã chuyển dần từ dịch Phạn – Hán sang dịch Hán – Việt (qua chữ Nôm) khi chữ Nôm đạt đến độ thành thục (với nghĩa đủ để ghi toàn bộ hệ thống ngôn ngữ nói) mà di duệ khá sớm của phong trào này hiện nay còn có thể thấy qua cuốn Phật thuyết Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh mặc dù tác phẩm này chỉ còn một văn bản in theo bộ ván gỗ được khắc vào thế kỉ 18 nhưng ngôn ngữ và văn tự (chữ Nôm) trong văn bản cho thấy rất có thể đây là tác phẩm được dịch và định hình ngôn ngữ văn tự từ thời Lí Trần([11]).

         Trong bối cảnh phiên dịch như vậy việc dịch Kinh Thi từ tiếng Hán sang tiếng Việt (qua chữ Nôm) đã được đặt ra từ rất sớm trên lãnh thổ Việt Nam. Sách Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa cho rằng “Đến thời Sĩ vương dời xe đến nước ta [cai trị] hơn bốn mươi năm ban khắp giáo hóa giải nghĩa bằng lời thông tục nước Nam để thông hiểu chương cú hợp thành thi ca quốc ngữ để ghi tên gọi theo vần mà làm sách Chỉ nam phẩm vựng gồm hai quyển thượng và hạ”([12]). Văn Đa Cư Sĩ Nguyễn Văn San (khoảng nửa sau thế kỉ 19) có lẽ đã căn cứ vào những ghi chép này để nêu ra thuyết Sĩ Nhiếp (Tiếp 187 - 226) dịch Kinh Thi ra chữ Nôm tuy rằng đây có thể chỉ là những trang huyền sử([13]) nhưng việc đẩy niên đại phiên dịch Kinh Thi lên đến tận thời Sĩ Nhiếp (được gắn cho tôn hiệu Nam Giao Học Tổ) cho thấy bộ kinh điển này đã được người Việt xưa trọng thị và tôn sùng. Về thời nhà Hồ bộ tín sử Đại Việt sử kí toàn thư chép: “Tháng 11 [năm Quang Thái thứ 9 (1396)] [Hồ] Quý Li làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa và bài tựa sai nữ sư dạy hậu phi và cung nhân học tập. Bài tựa phần nhiều theo ý mình không theo tập truyện của Chu Tử”([14]). Theo ghi chú của người dịch bộ sử kí này thì đây có lẽ là một bản “giải thích Kinh Thi bằng quốc ngữ hay dịch Kinh Thi ra quốc ngữ (chữ Nôm)”. Dù tư liệu này hiện không còn giữ được nhưng ghi chép về nó cho thấy Kinh Thi đã được dịch làm tài liệu để giáo dục những phụ nữ có địa vị cao trong xã hội một động thái chứng tỏ nhà cầm quyền đương thời đã có ý thức mở rộng đối tượng giáo dục của bộ kinh điển này sang phạm vi nữ giới chứ không chỉ bó hẹp trong phạm vi nam giới theo quan điểm giáo dục của Nho giáo truyền thống.

Từ sau thời Hồ phong trào phiên dịch ở Việt Nam ngày càng nở rộ và quan trọng hơn cả là sản phẩm của hoạt động phiên dịch ấy vẫn còn hiện hữu trước mắt chúng ta ngày nay. Trong thời Trung Đại dù chữ “Quốc ngữ” (chữ cái Latin ghi tiếng Việt) đã được sử dụng tuy không rộng rãi (chủ yếu là trong Giáo hội Công giáo) tại Việt Nam nhưng với những tư liệu hiện biết thì thành quả phiên dịch giai đoạn này nổi bật là dịch từ tiếng Hán (qua chữ Hán) sang tiếng Việt (qua chữ Nôm). Một trong những tác phẩm Hán văn rất được chú ý dịch là Kinh Thi. Về những tư liệu dịch đã mất ngoài huyền sử về việc Sĩ Nhiếp dịch Kinh Thi và việc Hồ Quý Li làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa (xem trên) ở giai đoạn trước thì từ thời Hồ trở đi ta còn biết đến việc Nguyễn Quý Kính (Cảnh 1693 - 1766) thích nghĩa Tứ Thư Ngũ Kinh([15]) (hẳn phải có Kinh Thi); việc Tùng Thiện vương Nguyễn Miên Thẩm (1819 - 1870) viết một quyển Thi kinh quốc âm ca ([16]). Đáng tiếc là bốn tư liệu này hiện chưa/ không tìm được.

Bất kể là  có hay không có sự mất mát trên thì chúng ta vẫn hoàn toàn có thể lạc quan vì theo những tư liệu người viết khảo sát hiện vẫn còn lưu giữ được ít nhất 08 tác phẩm 19 văn bản 31 kí hiệu sách với tổng số 5.368 trang tư liệu về Kinh Thi chữ Nôm([17]) (xin xem bảng tổng kết về trữ lượng tư liệu Kinh Thi chữ Nôm hiện còn trong phần Phụ lục cuối bài viết này). Các dịch phẩm này được thể hiện ở cả hai thể loại văn xuôivăn vần về quy mô có cả toàn dịchlược dịch. Niên đại của các dịch phẩm trải dài từ đầu thế kỉ 18 đến cuối thế kỉ 19 – đầu thế kỉ 20. Sớm nhất là tác phẩm Thi kinh giải âm chưa rõ dịch giả mới phát hiện được một văn bản in theo ván khắc của nhà tàng bản Kế Thiện đường khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) văn bản này đã được Sùng Chính viện cho khắc lại vào năm Quang Trung thứ 5 (1792) theo chiếu chỉ của vua Quang Trung yêu cầu dịch gấp một số bộ kinh điển Nho gia([18]). Sau đó là tác phẩm Thi kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa gồm hai bản khắc một bản khắc năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) của nhà tàng bản Nguyễn đường và ngay một năm sau đó năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) nó đã được Đa Văn đường khắc lại. Tác phẩm này dựa trên cơ sở bản chữ Hán Thi kinh đại toàn tiết yếu ([19]) của Bùi Huy Bích (1744 - 1818) nhưng chưa rõ người dịch có phải là chính họ Bùi hay không([20]). Việc chỉ trong một thời gian không dài (1714 → 1792 1836 → 1837) đặc biệt là trong điều kiện khắc ván và in ấn khó khăn mà các dịch phẩm đã được “tái bản” liên tục như vậy chứng tỏ nhu cầu tiếp nhận Kinh Thi ở Việt Nam là tương đối cấp thiết.

Bên cạnh những dịch phẩm văn xuôi trên còn một số dịch phẩm bằng thơ mà văn bản phần lớn tồn tại ở dạng chép tay chưa rõ niên đại chính xác ước đoán xuất hiện trong khoảng từ cuối thế kỉ 18 đến đầu thế kỉ 20. Đáng ghi nhận nhất là hai tác phẩm Thập ngũ Quốc Phong diễn âm (AB.169) và Thi kinh thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc([21])(A.1122) đều diễn ca trọn vẹn 160 thiên thuộc phần Quốc Phong (mỗi thiên dịch thành một bài thơ riêng) tổng số câu của mỗi bản diễn ca lần lượt là 1.617 và 1.499. Cũng cần nhắc đến tác phẩm Thi kinh quốc ngữ ca (có thể là tác phẩm của Nguyễn Bá Lân 1700 - 1785) thể lục bát dài 700 câu (dòng) thơ diễn ca tóm lược mỗi thiên gọn vào khoảng 2 câu thơ tác phẩm này còn 1 bản khắc in kí hiệu VNv.125 và 5 truyền bản chép tay khác trong các kí hiệu sách AB.151 AB.314 AB.360 AB.523 VNv.533. Ngoài ra còn một số bản diễn ca lẻ tẻ từng thiên như thiên Thất nguyệt thiên Tiểu nhung mà Phạm Đình Toái (giữa thế kỉ 19) cũng tham gia diễn ca. Người Việt dường như đặc biệt chú ý đến thiên Thất nguyệt thuộc Mân Phong 88 câu (dài nhất trong 160 thiên Quốc Phong) đến nay chỉ riêng thiên này vẫn còn 2 bản dịch văn xuôi([22]) và 4 bản dịch thơ([23]) bằng chữ Nôm. Điều đó chứng tỏ trong thời Trung Đại ở Việt Nam nhu cầu đọc thiên Thất nguyệt là khá cấp thiết nguyên nhân có lẽ là do thiên này có nội dung nói về những công việc gắn bó thiết thân tới người nông dân trong trọn năm: thời tiết nông vụ trồng trọt ăn mặc trồng dâu nuôi tằm xe tơ dệt lụa săn bắn dâng lễ vật lên vua…

Rõ ràng là  Kinh Thi đã rất được chú ý phiên dịch trong lịch sử Trung Đại Việt Nam. Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng này? Ta biết rằng Kinh Thi vốn tồn tại với hai tư cách: một tác phẩm văn học và một bộ kinh điển của Nho giáo. Là tác phẩm văn học nó nổi trội ở thời điểm ra đời rất sớm trong lịch sử văn học Trung Quốc (khoảng từ trước thế kỉ 6 tr.CN). Là tác phẩm kinh điển Nho giáo nó nổi trội ở thể loại văn vần duy nhất trong số Tứ Thư – Ngũ Kinh. Đến thời Hồ thì về cơ bản Nho giáo đã tạo được những ảnh hưởng lấn át dần Phật giáo và Đạo giáo trong xã hội Việt Nam đặc biệt là trong chính trị và giáo dục bằng chứng là thời kì này đã xuất hiện những bậc “cự Nho” như Nguyễn Trãi. Với tính “sùng cổ” “sùng kinh” và “sùng văn” của Nho sĩ nói chung và lớp trí thức Nho học Đại Việt nói riêng thì việc từ rất sớm người Việt đã chọn một tác phẩm văn học – kinh học có nguồn gốc xa xưa như Kinh Thi để dịch ra bản ngữ là điều có thể cắt nghĩa được.

2. Cách xử lí  dịch với thứ ngôn ngữ phân tích tính cao trong Kinh Thi

Bất cứ độc giả nào đọc Kinh Thi đều nhận thấy một điều là: ngôn ngữ trong Kinh Thi là ngôn ngữ phân tích tính (analytic language) cao độ… Ví dụ: trong thiên Tiểu nhung để biểu thị các giống ngựa khác nhau Kinh Thi đã dùng để chỉ ngựa có vằn màu xanh đen dùng chúc 馵để chỉ ngựa có chân sau bên trái màu trắng dùng lưu để chỉ ngựa màu đỏ mà lông bờm đen dùng qua để chỉ ngựa vàng mõm đen dùng li để chỉ ngựa đen tuyền… chứ không dùng cấu trúc định ngữ + trung tâm ngữ (x + ) như cách xử lí của ngôn ngữ tổng hợp tính (synthetic language). Hay như thiên Trắc hỗ dùng hỗ để chỉ núi trọc dùng để chỉ núi có cây cỏ chứ không dùng cấu trúc xxx + sơn Trong khi đó qua văn Nôm nói chung ta đều thấy ngôn ngữ tiếng Việt vào thời xuất hiện các bản dịch chữ Nôm lại không phải là ngôn ngữ phân tích tính cao như thế. Vậy thì các bản dịch đã lựa chọn giải pháp nào để dung hòa mâu thuẫn này? Kết quả khảo sát cho thấy các bản dịch đều tỏ ra tôn trọng nguyên bản bằng cách xử lí đưa nguyên chữ Hán ấy vào bản dịch ví dụ:

-    Ngựa kì ngựa lưu ấy làm ngựa giữa ngựa qua ngựa li ấy làm ngựa tham. (các bản Vĩnh Thịnh 1714 và Quang Trung 1792 ở trang IV4b các bản Minh Mệnh 1836 và Minh Mệnh 1837 ở trang II91a).

-   Ngựa kì lưu ấy này ở giữa

Ngựa  qua li hai ngựa kèm ngoài.

(Thập ngũ Quốc Phong diễn âm AB.169 154a)

-   Kì lưu song mã kéo trong

Qua li hai ngựa gác rong bên ngoài.                  

  (Thi kinh thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc A.1122 68a)

Nhưng cũng có bản dịch chọn cách dịch thành thứ ngôn ngữ tổng hợp tính ví dụ với thiên Trắc Hỗ hai bản dịch thơ giữ nguyên ngôn ngữ phân tích tính còn bốn bản diễn xuôi chuyển thành ngôn ngữ tổng hợp tính:

Lên  núi trọi kia vậy […] Lên núi rậm kia vậy (bốn bản diễn xuôi III42ab II73b-74a)

 Lên hỗ dĩ trông nom cha mẹ (AB.169 132a)

Trèo lên núi  hỗ dĩ kia (A.1122 64a)

Nhưng điểm quan trọng nhất có lẽ là: trong khi muốn giữ nguyên thứ  ngôn ngữ phân tích tính của Kinh Thi thì ngay ở lời dịch các dịch giả vẫn chú ý biến nó thành một thứ ngôn ngữ tổng hợp tính: ngựa kì ngựa lưu ngựa qua ngựa li ngựa kì lưu ngựa qua li kì lưu song mã qua li hai ngựa núi hỗ dĩ kia… Đó là cách xử lí chung mà các bản dịch Nôm đã thực hiện với thứ ngôn ngữ phân tích tính cao trong Kinh Thi mà trường hợp hai thiên Tiểu nhung Trắc hỗ nêu ra trên đây chỉ là những điển hình. Cách xử lí này đã chứng tỏ được tính nghệ thuật và tính khoa học của nó bởi đến cuối thế kỉ 20 nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh vẫn còn tái khẳng định điều này khi ông cũng có chủ trương tương tự với vấn đề dịch Kinh Thi ra tiếng Việt ông viết: “[…] theo ý tôi cứ dịch là “ngựa” hoặc “ngựa kì” “ngựa chúc”… còn chi tiết nếu muốn giúp người đọc hiểu thêm tốt hơn nên đưa riêng vào phần chú thích. Làm như vậy chúng ta vừa đảm bảo được tính nghệ thuật của bản dịch vừa đảm bảo tính chính xác khoa học trên phương diện ngôn ngữ học”[24].

Qua đây có thể thấy: một mặt các bản dịch đã giữ một thái độ tôn trọng nguyên bản Kinh Thi khi tiếp nhận tác phẩm này người dịch sẵn sàng chấp nhận khó khăn khi đọc hiểu ngôn ngữ đích (target language) để có thể truyền đạt trọn vẹn các lớp nghĩa của ngôn ngữ nguồn (source language) bằng việc tái sử dụng nguyên vẹn một số từ ngữ ở ngôn ngữ nguồn; mặt khác các bản dịch vẫn luôn có xu hướng “tổng hợp tính hóa” ngôn ngữ Kinh Thi bằng cả hai cách: một là dịch thẳng nghĩa của một từ phân tích tính của ngôn ngữ nguồn sang một từ tổ tổng hợp tính của ngôn ngữ đích (hỗ → núi trọi dĩ → núi trọc…) hai là đệm một danh từ chung vào trước (hoặc sau khi chịu sức ép của vần luật thơ) những từ phân tích tính (ngựa kì ngựa lưu ngựa qua ngựa li qua li hai ngựa…).

3. Tiếp nhận kinh học và văn học

Như trên  đã trình bày Kinh Thi tồn tại song song với hai tư cách: tác phẩm văn học và tác phẩm kinh học Nho gia. Thời gian xuất hiện ở Việt Nam những bản dịch hiện còn (sớm nhất là bản có niên đại ván khắc 1714) cũng là thời gian mà Nho giáo đã ảnh hưởng toàn diện đến thiết chế tư tưởng văn hóa xã hội Việt Nam vì vậy quá trình tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam hoàn toàn có thể diễn ra cả theo hướng tiếp nhận một tác phẩm văn học (bản lai diện mục của bộ kinh điển này) và tiếp nhận một tác phẩm kinh học Nho gia (do ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo Trung Quốc).

Nguyên lai Kinh Thi là một tác phẩm văn học bằng thơ nhưng do có thuyết cho rằng nó được Khổng tử san định([25]) nên hậu Nho đã “kinh học hóa” (classicize) “huyền thoại hóa” (mythify) thi phẩm ấy. Trào lưu này vốn xuất hiện ngay từ thời Hán với các bản chú giải Kinh Thi như Mao truyện Trịnh tiên và tiêu biểu là bản Thi kinh tập truyện của Chu Hi đời Tống. Nhưng trào lưu “kinh học hóa” “huyền thoại hóa” ấy dần dần bị phản đối từ đời Minh đã xuất hiện trào lưu nghiên cứu Kinh Thi “phản truyền thống” coi trọng thi ý và tình cảm mà coi nhẹ huấn hỗ và lí tính trào lưu này tiếp tục phát triển mạnh vào đời Thanh. Theo nhà nghiên cứu Vương Hiểu Bình ở Trung Quốc Phương Ngọc Nhuận (1811 - 1883) người đời Thanh viết cuốn Thi kinh nguyên thủy với phương châm theo chữ để xét nghĩa tầm nguyên ý gốc của thi nhân. Phương Ngọc Nhuận cho rằng thơ trong Kinh Thi không bị câu nệ bởi Thi tự Mao truyện như với thiên Phù dĩ ông gạt bỏ các thuyết “chữa ác tật” và “chữa khó đẻ”; với thiên Manh ông cho đây không phải là sáng tác về việc ruồng bỏ vợ… Ông còn nói rằng: “Đại để là các nhà nghiên cứu về Kinh Thi trước hết đều bị một cái mũ vừa to vừa rộng chụp vào đầu rồi sau mới tự mình trình bày ý kiến riêng”. Ở Nhật Bản các học giả từ thời Giang Hộ (Edo 1601 – 1867) đã kế thừa xu hướng “phản truyền thống” trong nghiên cứu Kinh Thi đời Minh ở Trung Quốc. Các học giả Nhật là hai cha con Y Đằng Nhân Trai (Ito Jinsai 1627 - 1705) và Y Đằng Đông Nhai (Ito Togai 1670 – 1738) Lương Xuyên Tinh Nham (Yanagawa Seigan 1789 – 1858)… thời Giang Hộ; và Tiểu Dã Hồ Sơn (Ono Kozan 1814 – 1910) thời Minh Trị (Meiji 1868 - 1912) “đều chủ trương đọc Kinh Thi với tư cách là một tác phẩm văn học”([26]).

       Có thể thấy rằng vào thời Minh – Thanh ở Trung Quốc và các thời Giang Hộ Minh Trị ở Nhật Bản người Trung Quốc và Nhật Bản đã không chỉ hiểu Kinh Thi với tư cách một tác phẩm kinh học (như yêu cầu trong khoa cử) mà họ còn hiểu Kinh Thi với tư cách một tác phẩm văn học thực thụ trào lưu “giải kinh học” (declassicize) “giải huyền thoại” (demythify) đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc tiếp nhận Kinh Thi. Vậy trong cùng thời kì đó người Việt Nam đã tiếp nhận tác phẩm này như thế nào? Như đã dẫn trên Hồ Quý Li làm sách Quốc ngữ Thi nghĩa trong đóBài tựa phần nhiều theo ý mình không theo tập truyện của Chu Tử” mặc dù ghi chép này không hề đề cập đến nội dung phần diễn Nôm Kinh Thi mà chỉ nói về tư tưởng của người dịch trong bài tựa nhưng nó có thể là một bằng chứng cho thấy ở Việt Nam cũng sớm xuất hiện trào lưu “giải kinh học” “giải huyền thoại” bởi chắc hẳn Hồ Quý Li đã có những nỗ lực để thoát khỏi cái bóng kinh học của Chu Hi. Tiếc rằng đây cũng chỉ là ức đoán bởi hiện không còn tác phẩm Quốc ngữ Thi nghĩa để kiểm chứng.   

        Xét về mặt ngôn ngữ phiên dịch biểu hiện rõ rệt nhất cho việc kinh học hóa Kinh Thi là việc các bản truyện chú bằng chữ Hán đã có xu hướng “đặc chỉ hóa” các từ phiếm chỉ trong Kinh Thi khi đó các nhân vật vốn là phiếm chỉ trong tác phẩm đã được “bắt vít” với các nhân vật lịch sử đặc chỉ (Văn Vương Thái Tự Trang Khương Vệ Trang công…). Với những dịch phẩm Kinh Thi hiện còn nếu chỉ tính riêng trong phần văn dịch chữ Nôm mà bỏ qua những phần cước chú Hán văn (đối với bốn bản diễn xuôi) thì xu hướng này cũng khá đậm nét ví dụ:  

Stt thiên.

Câu

Nguyên bản – 

Dịch nghĩa

Bốn bản dịch xuôi (miễn ghi vị trí) Bản dịch thơ AB.169 Bản dịch thơ A.1122
28.9   Người con gái ấy về nhà chồng Nàng Đái Vĩ chưng khi trở về Ả kia về nước xa đưa theo [cùng] (32b) Đưa nàng Đái Vĩ về không (46b)
28.10 Tiễn đưa nàng một quãng xa Bà  Trang Khương xa đưa đấy Xa xa trông ngóng ngập ngừng lòng ta. (46b)
30.1 Gió thổi suốt ngày và dữ dội Tính Trang công như gió trọn ngày vả kíp Trọn ngày như  gió đùng đùng (35b) Trọn ngày gió  dữ lắm ôi (47a)
49.3 Người ấy vô lương Công tử  Ngoan kia chưng chẳng lành Người kia chưng nết chẳng lành (62a) Tuyên Khương công tử là người vô lương (51b)
49.7 Người ấy vô lương Tuyên Khương kia chưng chẳng lành
57.1 Người đẹp đẽ  đã trưởng thành Người cả  là Trang Khương thửa tốt ngồn ngộn Ả kia người lớn vả dài (75b) Người to tốt  đẹp thung dung (53b)
116.4 Theo ngài ở đất Ốc Theo ngươi Hoàn Thúc chưng đất (Khúc) Ốc Theo cùng ra Ốc Hộc với ngơi (139b) Theo ngươi Hoàn Thúc tới vào Ốc đô (65b)
130.3 Người quân tử đến 130.3 Tần Tương công đến đấy Người quân tử  đến nơi dưới núi (156b) Vua ta kia đã tới nay (68b)
134.1 Ta tiễn đưa cậu ta đi Ta là  Tần Khang công đưa nhà cậu Trùng Nhĩ Đưa cữu thị trở về Tấn quốc (161a) Ta đi hộ cậu lên đường (69b)
144.1 Làm gì ở đất Chu Lâm? Trần Linh công làm sao vậy mà đi đất Chu Lâm Làm sao đến đất Chu Lâm (168b) Làm sao vậy  ấp Chu Lâm (71a)
  
 
 

      Trong 10 trường hợp các bản diễn xuôi đã “đặc chỉ hóa” các từ phiếm chỉ như trên thì bản dịch thơ Thập ngũ Quốc Phong diễn âm (AB.169) chỉ có 1 trường hợp bản dịch thơ Thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc (A.1122) cũng chỉ có 4 trường hợp.  

      Trong các bản diễn thơ đáng chú ý là bản Thi kinh thập ngũ Quốc Phong diễn âm ca khúc được chép tay trong kí hiệu sách A.1122 dịch thơ trọn vẹn 160 thiên phần Quốc Phong thống nhất theo thể lục bát. Kết thúc phần dịch của mỗi thiên là một câu lục (chứ không phải câu bát như thông lệ) có nội dung thường không nằm trong nội dung nguyên bản Hán văn Kinh Thi mà hoặc là một ý kiến đánh giá của dịch giả về tông chỉ của thiên đó hoặc nói rõ thiên ấy có liên hệ như thế nào với những thiên khác ví dụ với 20 thiên đầu tiên:  

Stt thiên Tên thiên Câu lục kết thúc mỗi thiên trong bản dịch A.1122 Vai trò của câu kết
1              Quan thư Ba trăm chép  để đầu thiên Giới thiệu đây là thiên đầu
2              Cát  đàm Kiệm cần hiếu kính khả quan Đánh giá về tông chỉ của thiên
3              Quyển nhĩ Ta ngồi rót chén kim lôi Thuộc nội dung thiên
4              Nam hữu cưu mộc Nối tương phúc lí  ngày thêm Thuộc nội dung thiên
5              Chung tư Đức dầy con cháu lắm thay Thuộc nội dung thiên
6              Đào yêu Cửa nhà  thuận hợp hòa vui Thuộc nội dung thiên
7              Thố  tư Đồng tâm đồng đức chan chan Thuộc nội dung thiên
8              Phù  dĩ Hòa bình vô  sự cùng vui Đánh giá về tông chỉ của thiên
9              Hán quảng Sông dài chẳng khá  vượt ngang Thuộc nội dung thiên
10          Nhữ  phần Đã về chẳng bỏ xa ta Thuộc nội dung thiên
11          Lân chi chỉ Chân chân nhân hậu hữu dư Đánh giá về tông chỉ của thiên
12          Thước sào Thơ  này ứng với “Thư  cưu” Liên hệ với thiên khác
13          Thái phiền Thi trung họa xuất hiền phi Đánh giá về tông chỉ của thiên
14          Thảo trùng So cùng “Quyển nhĩ” như in Liên hệ với thiên khác
15          Thái tần Tam tòng tứ  đức gồm no Đánh giá về tông chỉ của thiên
16          Cam đường Càng lâu tức thấm càng sâu Đánh giá về tông chỉ của thiên
17          Hành lộ Lòng ngay như  đá không xiêu Đánh giá về tông chỉ của thiên
18          Cao dương Trong triều còn lắm người hay Đánh giá về tông chỉ của thiên
19          Ân kì lôi<