Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của Kinh Thi trong văn chương chữ Nôm Việt Nam.

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA  KINH THI

TRONG VĂN CHƯƠNG CHỮ NÔM VIỆTNAM   

ĐỖ THỊ BÍCH TUYỂN

                                                                                                                                      Viện Nghiên cứu Hán Nôm

    I. Giới thiệu sơ lược về  Kinh Thi        

Theo các nhà nghiên cứu Kinh Thi ở Trung Quốc thì Kinh Thi vốn là lời những bài dân ca được lưu truyền trong dân gian từ đầu thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu tức khoảng từ thế kỷ XI đến thế kỷ VI trước công nguyên. Từ lĩnh vực dân gian được chuyển sang lĩnh vực thành văn hơn nữa còn được xếp vào loại sách kinh điển Kinh Thi đã trải qua quá trình sưu tầm chỉnh lý biên soạn khá phức tạp. Tuy nhiên chúng tôi không bàn vấn đề đó ở đây chỉ biết rằng bộ Kinh Thi chúng ta được biết đến ngày nay do Khổng Tử đã san định và để lại cho đời.

    Với các nhà nghiên cứu về Nho học Trung Quốc Kinh Thi luôn được coi là tấm gương sáng cho muôn đời soi vào. Các sách kinh điển của Trung Quốc như Đại học Trung Dung Luận ngữ Mạnh Tử đều dẫn Kinh Thi làm bằng chứng. Sách Luận ngữ - Dương Hóa có câu: “Thi khả dĩ hưng khả dĩ quan khả dĩ quần khả dĩ oán nhĩ chi sự phụ viễn chi sự quân đa chí ư điểu thú thảo mộc chi danh” nghĩa là: xem Kinh Thi có thể phấn khởi được ý chí xem xét được việc hay dở hòa hợp với mọi người bày tỏ nỗi sầu oán gần thì học việc thờ cha xa thì học việc thờ vua lại biết được nhiều tên chim muông cỏ cây.

    Sách Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp là tác phẩm lý luận văn học vĩ đại của Trung Quốc xuất hiện cách chúng ta hơn một nghìn năm đã từng biện giải tán tụng về Kinh Thi coi đó như khuôn mẫu chuẩn mực cho các sáng tác(1). Sách Tam tự kinh một cuốn sách giáo khoa khải mông từng nhận định “Vi học giả tất hữu sơ. Tiểu học chung chí Tứ thư. Hiếu kinh thông Tứ thư thục. Như Lục kinh thủy khả độc: Thi Thư Lễ Dịch Xuân Thu hiệu Lục kinh đương giảng cầu” nghĩa là: Người đi học tất có đầu. Xong Tiểu học đến Tứ thư. Thông Hiếu kinh thuộc Tứ thư. Đến Lục kinh mới được học. Thi Thư Lễ Dịch Xuân Thu gọi Lục kinh cần giảng đọc(2).

    Có  thể nói mức độ ảnh hưởng của Kinh Thi đối với sáng tác văn học đời sau ở Trung Quốc là rất lớn từ văn học các đời Hán Nam Bắc Triều Tùy Đường Tống Nguyên Minh Thanh cho đến nay thơ văn thời nào cũng tiếp thu tinh hoa của Kinh Thi. Không những thế Kinh Thi còn có ảnh hưởng rất lớn đối với nền văn học và văn hóa các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam.

    II. Kinh Thi với văn học Việt Nam

    Khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam thì Kinh Thi cùng với các bộ sách kinh điển khác đã trở thành khuôn vàng thước ngọc cho hệ tư tưởng Nho giáo và sáng tác văn chương ở nước ta. Trong Vân đài loại ngữ Lê Quý Đôn từng viết: “Tự hữu văn tự tiện hữu thư tịch. Ngũ kinh Ngữ Mạnh thành như nhật nguyệt” nghĩa là: Từ khi có văn tự thì có sách vở. Sách Ngũ kinh sách Luận ngữ và Mạnh tử thật như mặt trời mặt trăng sáng chói”(3).         

Là một người hiểu rộng về Kinh Thi Lê Quý Đôn còn cho rằng: “Thơ khởi phát từ trong lòng ta. Ba trăm bài thơ trong Kinh Thi phần nhiều là của nông dân phụ nữ làm ra mà cũng có những bài các văn sĩ đời sau không theo kịp được như thế là vì nó chân thực”(4).         

Hơn nữa các thể phú tỷ hứng trong Kinh Thi thường được xem là tiêu biểu cho các thể loại sáng tác sau này. Như Lê Quý Đôn đã đưa ra nhận xét như sau: “Sách Văn tâm điêu long chép: Luận thuyết từ tự thì Kinh Dịch làm đầu; chiếu sách chương tấu thì Kinh Thư làm đầu; phú tụng ca tán thì Kinh Thi dựng thể cách...”(5)         

Với tất cả những gì tinh tuý và thuần mĩ   Kinh Thi được coi là khuôn mẫu cho sáng tác của các nho sĩ Việt Nam. Cùng với các bộ sách kinh điển khác của Nho giáo Kinh Thi từng được dùng làm đề tài trong khoa cử của Việt Nam. Trong sách Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu hiện chúng tôi tìm thấy hai đầu sách:        

1. Thi Kinh sách lược 詩經策略 ký hiệu VHv.385 nội dung: tuyển chọn 350 bài văn sách đề tài lấy ở các thiên trong Kinh Thi.        

2. Thi Thư sách lược 詩書策略 ký hiệu VHv.433 nội dung: tuyển 180 bài văn sách đề tài lấy trong Kinh ThiKinh Thư.        

 Ở  một vài sách khác các tác giả cũng sử dụng Kinh Thi cho mục đích biên soạn của mình như trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn soạn năm 1777 nội dung ghi chép về chính trị giáo hóa phẩm hạnh lễ nghi quan chế... trong đó có những đoạn bàn về Tứ thưNgũ Kinh (trong đó có Kinh Thi). Học giả Nhàn Vân Đình Trần Duy Vôn khi biên soạn sách Đế vương bảo giám 帝王寶監dâng vua có trích dẫn Kinh Thi làm tài liệu để bàn luận.v.v.        

Ngoài ra còn rất nhiều sách nói đến Kinh Thi nhưng không viết riêng biệt mà gộp lại cả trong Ngũ kinh như:        

1. Ngũ kinh loại thuyết 五經類 ký hiệu A.2223 chép những bài văn sách đề tài lấy trong Ngũ kinh.        

2. Ngũ kinh tiết yếu 五經節要 ký hiệu AC.442/1-20 do Bùi Huy Bích soạn trong đó có phần: Thi kinh đại toàn 696 trang 4 quyển ghi những điểm cốt yếu của Kinh Thi.        

3. Ngũ kinh xuyến châu tự 五經串珠序 ký hiệu A.1633 giới thiệu ý nghĩa mục đích và giá trị của Ngũ kinh.        

Với những gì mà sách Tam tự kinh đã dẫn ở trên ở nước ta Kinh Thi còn được dùng làm giáo trình giảng dạy trong các trường đại học từ trước tới nay và có lẽ còn mãi về sau.         

III. Ảnh hưởng của Kinh Thi trong văn chương chữ Nôm         

Theo sử  sách nước ta ngay từ thời nhà Hồ vua Hồ  Quý Ly đã cho dịch thiên Vô dật trong Kinh Thư dịch Kinh Thi và viết sách Thi Nghĩa bằng chữ Nôm (nhưng rất tiếc nay không còn nữa). Sang thế kỷ XVIII vua Quang Trung đã xuống chiếu sai Viện trưởng Sùng Chính viện là học giả La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp dịch Kinh Thi ra chữ Nôm khắc in năm Quang Trung 5 (1792). Số sách dịch hiện nay không còn nhưng những tờ chiếu về việc này thì vẫn còn được lưu giữ(6). Tuy nhiên GS. Nguyễn Quang Hồng đã phát hiện ra một bản Thi Kinh giải âm có niên đại sớm hơn tức là ván khắc năm Vĩnh Thịnh 10 nhà Lê (1714)(7) được lưu giữ ở kho sách Hán Nôm của Viện Văn học. Điều đó có thể thấy rằng ở nước ta Kinh Thi đã được diễn Nôm rất sớm và công phu. Qua thống kê sơ bộ trong kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm chúng tôi tập hợp được 6 bản. Cụ thể là:        

1. Thi kinh diễn âm 詩經演音 ký hiệu AB.137        

2. Thi kinh chính văn truyền chú diễn âm 詩經正文傳注演音 ký hiệu AB.169 diễn theo thể thơ lục bát và song thất lục bát.        

3. Thi kinh giải âm 詩經解音 in năm Quang Trung 5 (1792) ký hiệu AB.144/1-5 dịch và chú thích toàn bộ Kinh Thi bằng chữ Nôm.        

4 . Thi kinh Thư kinh quốc ngữ ca 詩經書經國語歌 ký hiệu AB.523       

5. Thi kinh Thư kinh quốc ngữ ca 詩經書經國語歌 ký hiệu AB.151       

6. Thi Kinh diễn nghĩa 詩經演義 ký hiệu AB.168/1-2 in năm Minh Mệnh 18 (1837)       

Ngoài ra trong Ba Thi quốc ngữ ca 葩詩國語歌 ký hiệu AB.360 còn có phần diễn Nôm 31 bài thơ trong Kinh Thi.         

Trong quá trình thâm nhập các văn bản diễn Nôm bộ sách Kinh Thi chúng tôi nhận thấy đây có thể coi là những bản dịch Kinh Thi tương đối chuẩn xác đáng để những dịch giả đời sau và chúng ta tham khảo học tập. Lấy sách Thi kinh chính văn truyền chú diễn âm để khảo sát chúng tôi sẽ đưa ra một số ví dụ để chứng minh điều đó.

Bài diễn Nôm Quan thư:

         Chim kêu trên bãi sông Hà

         Gái lành quân tử thật là  tốt đôi.

         Trước kia tìm chửa được ai

         So le hạnh thái ngược xuôi thuận dòng.

         Tìm chưa được mỏi mong cưu nhớ

         Dằng dặc thay trăn trở không yên.

         Rau hái được tay liền hái nấu

         Tìm được người tĩnh diệu mừng sao.

         Cầm sắt ngụ ý thân yêu

         Lại đem chuông trống dập dìu khua vui.        

Kinh Thi với tính chất là một loại hình ca dao cổ của Trung Quốc nên lời thơ lặp lại qua nhiều chương. Ở bản diễn Nôm này tác giả đã khúc triết lắp ghép rất tài tình ngắn gọn mà vẫn đầy đủ ý nghĩa. Ví dụ trong bài Đào yêu có 3 chương chương 1 đề cập đến hoa đào chương 2 quả đào chương 3 lá đào. Ở phần diễn Nôm chỉ cần 1 câu mà đã hội tụ được tất cả.        

Cây  đào non sắc tươi mơn mởn        

Hoa thịnh nhiều quả tốt đông.        

 Ả  kia về ở nhà chồng        

Hẳn rằng hiếu kính nên trong cửa nhà.

    Được đánh giá là tinh hoa của nhân loại Kinh Thi có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học nước ta đặc biệt là trong văn chương chữ Nôm (hay còn gọi là văn chương quốc âm). Với tính chất là loại văn chương sử dụng ngôn ngữ và thứ chữ dân tộc văn chương quốc âm phản ánh khá đầy đủ các mặt sinh hoạt trong cuộc sống của nhân dân. Các mặt sinh hoạt này hầu hết đều được phô diễn bằng cách mượn những điển tích những từ Hán lấy trong các thư tịch cổ Trung Quốc. Đó là một thực tế dễ hiểu vì dân tộc ta sống trong nghìn năm Bắc thuộc lại tiếp thu những ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc từ bao thế kỷ nay.

    Ở hầu hết các tác phẩm Nôm chúng ta đều thấy dấu ấn của Kinh Thi rất đậm nét: khi thì mượn ý tứ để sáng tác khi thì mượn nguyên vần có câu lấy 2 đến 3 hình ảnh trong Kinh Thi thậm chí có bài phú lấy hầu hết ý trong Kinh Thi để thể hiện ý đồ sáng tác. Tác giả văn Nôm vừa sử dụng câu chữ vừa sử dụng cấu tứ trong Kinh Thi để làm phong phú tác phẩm của mình.

    Chẳng hạn nói đến việc con gái đến tuổi cập kê  về nhà chồng văn Nôm có dùng các từ:  đào yêu đào non nghi gia gia thất mai phiếu hạnh thái... Nói đến công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ thường sử dụng các từ: cù lao chín chữ sinh ngã... Đây chưa phải là các từ đã ghi lại đầy đủ các yếu tố ngôn ngữ về những mặt này mà chỉ là những điển những chữ thường dùng khi nói về các việc đó nhưng nó lại mang tính chất tiêu biểu.        

Trong khuôn khổ của bài viết này chúng tôi chưa thể đưa ra hết tất cả những dẫn chứng cụ thể chỉ  xin đưa ra vài trường hợp nổi bật thường xuất hiện trên các tác phẩm văn học Nôm.        

+ Chữ  Đào yêu:        

 Đây là chữ trong bài Đào yêu thơ Quốc phong khen người con gái đến tuổi lập gia đình yên bề gia thất. Qua khảo sát một số văn bản Nôm chúng tôi nhận thấy chỉ riêng trong truyện Kiều đã có đến không dưới 7 lần hiện tượng đào yêu được xuất hiện. Ví dụ:        

- Quả  mai ba bảy đương vừa          

  Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì.

Hay:         

- Những từ sen ngó đào tơ          

Mười lăm năm mới bây giờ là đây.        

 Ở  đây Thúy Kiều không phải mới đến tuần cập kê nhưng trải qua dâu bể mười lăm năm lưu lạc nàng mới bắt đầu được hưởng niềm hạnh phúc bình dị của người con gái đến tuổi gả chồng. Đại thi hào Nguyễn Du không phải không có lý khi dùng từ sen ngó đào tơ để gán cho Kiều khi nàng được tái sinh.        

Còn  ở Đại Nam quốc sử diễn ca ngay ở phần mở đầu đã có câu:        

Vụ  Tiên vừa thủa đào yêu        

Xe loan nối gót tơ điều kết duyên.        

Nói  đến người con gái đang độ cập kê đến tuổi gả chồng có thể nói không gì thay thế  được từ đào yêu và biến tự của nó như đào tơ đào non thơ đào... Nó quen thuộc đến mức khi các tác giả nước ta sáng tác nói đến con gái tuổi cập kê về nhà chồng hầu như không ai không thốt ra lời thơ gắn với những từ này.         

Ngoài ra trong một số tác phẩm khác như Nhị độ mai Phạm Tải Ngọc Hoa Liệt nữ truyện đều thấy nói đến đào yêu thơ đào...        

Chẳng hạn:         

- Thơ  đào ngợi chữ vu quy        

Ban thêm châu ngọc cho về thành thân. (Nhị độ mai)        

-  Nàng rằng từ thuở tương kỳ        

  Đào yêu hẹn ước kịp kỳ nghi gia. (Liệt nữ truyện)        

Hay ở  một số bài phú Nôm chữ đào yêu cũng được sử dụng hết sức hữu tình:        

Nay: Vừa thủa đào yêu        

Chưng khi nguyệt dãi. (Tất kính tất giới vu vi phu tử phú)        

- Chẳng thấy chữ đào yêu mà liệu        

 Ắt  đến câu mai phiếu hẳn rồi. (Dục giá phú)        

Trong những ví dụ nêu trên chúng ta thấy có câu tác giả  mượn trọn ý tứ trong Kinh Thi để thể hiện như hình tượng Quả mai ba bảyĐào non hay Đào yêuMai phiếu (trong bài Phiếu hữu mai). Có thể nói dấu ấn Kinh Thi đậm nét trong tứ thơ làm cho câu thơ thêm xúc tích và truyền cảm.        

+ Chữ  Lân chỉ: Gót lân        

 Đây là chữ trong bài Lân chi chỉ trong thơ Quốc phong ý khen con lân hiền lành nhân hậu nên chân của nó cũng nhân hậu qua đó hàm ý khen ngợi gia đình và họ hàng có con cháu dòng dõi hiền tài đức độ. Hình tượng này xuất hiện trong những tác phẩm có nói đến việc sinh ra được con cháu thảo hiền nhưng một mặt nào đó cũng khẳng định đẳng cấp con nhà danh giá tông tộc.         

- Đông hàng lông phượng gót lân        

Kìa nhà  ngũ quế nọ sân bát đồng (Nhị độ mai)        

- Cơ  đồ vững đặt muôn năm        

Chung tư   lân chỉ sinh trăm mối ngàn. (TNC)        

- Trăm năm biết mấy tinh thần        

  Sinh con sau nối gót lân đời đời. (Lục Vân Tiên)         

- Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm         

 Đầu mũ mao mình tấm áo da. (Ai tư vãn)       

  - Thưa rằng cảm nỗi dây dưa        

 Đoái câu lân chỉ nhà chưa phỉ nguyền. (Dương Từ Hà Mậu)...        

Có thể  nói việc sử dụng điển tích đã làm cho tác phẩm sang lên. Hơn nữa việc sử dụng đúng lúc đúng chỗ càng làm cho giá trị của tác phẩm được đẩy lên cao và càng thể hiện được sự uyên bác của tác giả đã sản sinh ra nó.        

+ Chữ  Thuyền bách:        

Vốn dịch nghĩa từ chữ Bách chu trong bài Bách chu trong thơ Bội phong: Phiếm bỉ bách chu diệc phiếm kỳ lưu nghĩa là:         

Chiếc thuyền gỗ bách chơi vơi        

Xuôi theo dòng nước nổi trôi mặc lòng.        

Với  ý tứ như vậy văn Nôm mượn hình tượng này để miêu tả thân phận người con gái long đong trải qua dâu bể không biết về nơi đâu hoặc quá tuổi cập kê nhỡ thì chẳng biết nương về chốn nào.         

- Lênh đênh thuyền bách         

Lục cục sào mai. (Nữ tử quá thì tự hối phú)        

- Nàng rằng chiếc bách sóng đào        

 Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may. (Truyện Kiều)        

- Quản bao một chiếc bách châu        

Lênh đênh giữa vực mặc dầu mây mưa. (Dương Từ Hà Mậu)        

v.v.        

Trên  đây chỉ là một số dẫn chứng tiêu biểu thường được sử dụng trong những sáng tác thơ Nôm ca Nôm truyện Nôm. Ngoài ra trong thể văn Nôm biền ngẫu như văn tế hịch... chúng ta cũng tìm thấy các tác giả sử dụng ngữ liệu trong Kinh Thi.        

Theo đánh giá của học giả Dương Quảng Hàm thì  Kinh Thi là “một kho điển tích” mà càng khai thác càng thấy phong phú vô tận. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một đoạn của bài phú Nôm chép trong gia phả họ Nguyễn - Thanh Mục đường ở Thanh Trì Hà Nội(8) để minh hoạ thêm cho nhận định này. Nội dung bài phú lấy nhiều cứ liệu trong Kinh Thi để sáng tác. Đó là bài phú về bà Trang Khương. Trong đó có những câu như:         

- Mở  quyển Bội phong một quyển        

Khen bà  Khương Thị đàn bà.        

Hay:        

 “Kìa  Đái Quy là thê thiếp mà Khương Thị là  phu nhân duyên kiều cát đã rành rành phiên gác rộng;         

Nọ  Trang Công là tiên công mà Hoàn Công là kỷ  tử tiếng cư hành từng thăm thẳm chốn lầu cao”.         

Nguyên nghĩa trong thơ Bội phong nàng Đái Quy là thiếp còn Khương Thị là phu nhân nhưng lại không được vua Trang Công báo đáp ân tình. Nàng Đái Quy hiền thục lấy lòng tưởng nhớ tiên quân để khuyên Khương Thị gượng gắng khiến cho bà thường nhớ đến để vững vàng tâm chí. Bài thơ vì thế mà đôn hậu. Ý tứ của bài thơ đã được tác giả bài phú tiếp nhận để hình thành sáng tác răn dạy cháu con lấy làm gương mẫu mực để giáo huấn. Vì thế mà Kinh Thi được đề cao ca ngợi: Lấy việc chính đáng đức nhân mà tu thân lấy việc dâm tà lả lơi mà răn mình xa lánh.        

Kết luận        

Theo nhận xét của GS. Thạch Giang: “Điển cố và chữ  sách sử dụng trong văn bản Nôm xét về mặt ngôn ngữ học thì đều là những giá trị đã định hình và đã thể nghiệm được ghi chép trong sử sách. Nó đã được phổ biến và trở thành mẫu mực”. Vì vậy khi tìm hiểu về dấu ấn Kinh Thi trong văn chương chữ Nôm chúng tôi muốn phần nào khẳng định giá trị của những tác phẩm kinh điển bất hủ đang được lưu truyền từ ngàn đời xưa đến nay. Mặt khác chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng thế hệ chúng ta ngày nay nên biết học hỏi tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm phong phú cho nền văn học nước nhà.

Chú  thích:

  (1) Xem Văn tâm điêu long bản dịch của Phan Ngọc Nxb. Văn học 1997.

  (2) Xem Ngữ văn Hán Nôm tập 2 Ngũ Kinh tr.87. Trần Lê Sáng chủ biên.

  (3) Lê Quý Đôn Vân đài loại ngữ tập 1 tr.31 bản dịch Nxb. Văn hóa 1962.

  (4) Lê Quý Đôn Vân đài loại ngữ tập 1 tr.251 bản dịch. Nxb. Văn hóa 1962.

  (5) Lê Quý Đôn Vân đài loại ngữ tập 2 tr.103 bản dịch. Nxb. Văn hóa 1962.

  (6) Xem: Hoàng Xuân Hãn La Sơn phu tử Nxb. Minh Tân H. 1950.

  (7) Xem: Nguyễn Quang Hồng... Thi Kinh giải âm văn bản sớm nhất hiện còn khắc in năm Vĩnh Thịnh 1714 Tạp chí Hán Nôm số 3/2005.

  (8) Xem Gia phả họ Nguyễn-Thanh Trì Đỗ Thị Bích Tuyển Nguyễn Thị Dương dịch Nguyễn Hữu Tưởng hiệu đính. Tư liệu hiện được lưu giữ ở Thư viện Hán Nôm.

Tài liệu tham khảo:

  [1]Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu PGS. Trần Nghĩa đồng chủ biên Nxb. KHXH H. 1993.

  [2]Điển nghĩa văn học Nôm Việt Nam Nxb. Từ điển bách khoa 2002.

  [3]Kinh Thi Nxb. Văn học 2004.

  [4]Ngữ văn Hán Nôm tập 1-2 Trần Lê Sáng chủ biên Nxb KHXH H. 2002.

  [5]Từ ngữ điển cổ văn học Nxb. Văn học 1999.

  [6]Từ ngữ văn Nôm Nxb. KHXH H. 1993.

  [7]Thư tịch Hán Nôm Việt Nam luận giải về Tứ thư và Ngũ kinh hiện có ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm Trịnh Khắc Mạnh Tạp chí Hán Nôm số 1/2005.

  [8]Truyện Kiều Nguyễn Thạch Giang phiên âm chú giải Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp 1976.

  [9]Việt Nam văn học sử yếu Dương Quảng Hàm Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp 1993./.

                                Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.643-654)