Nguồn gốc Kinh Thi.

Nguồn gốc Kinh Thi

Kinh Thi là một bộ  sách gồm có những câu ca dao rất cổ của Trung Hoa. Ngày xưa Thiên tử cứ năm năm đi tuần thú một lần và ra lệnh cho quan Thái sư hiến dâng ca dao để xem phong tục của dân. Chư hầu nhặt những câu thi ca ấy để hiến lên Thiên tử Thiên tử tiếp nhận và liệt vào nhạc quan lấy cái đó để xét phong tục tốt hay xấu biết việc chính trị nên hư.

Theo lời dẫn trên thì  những bài ca dao trong Kinh Thi đã được sưu tập trước thời Khổng Tử. Nguyên nhan đề là Thi chứ không có chữ Kinh. Người ta thêm chữ ấy vì cho rằng cho Kinh Thi được Khổng Tử san định.

[sửa] Khổng Tử và Kinh Thi

Thiên Khổng Tử thế gia trong Sử ký của Tư Mã Thiên có chép:

    Tam bách ngũ  thiên Khổng Tử giai huyền ca chi dĩ  cầu hợp Thiều Vũ Nha Tụng chi âm.

    (Khổng Tử đã  đem 305 thiên trong Kinh Thi ra mà đàn ca để hợp với âm của Thiều Vũ Nhã Tụng.)

Thiên tử hãn trong Luận ngữ cũng có dẫn lời của Khổng Tử:

    Ngô  tự Vệ phản Lỗ nhiên hậu nhạc chính Nhã  Tụng các đắc kỳ sở.

    (Ta từ nước Vệ  trở về Lỗ nhiên hậu nhạc mới được chỉnh đốn lại Nhã Tụng được đặt đúng chỗ.)

Như vậy Khổng Tử  đã từng nghiên cứu âm nhạc và đem thi ca phổ thành nhạc khúc. Việc Khổng Tử san định Kinh Thi cũng có thấy chép trong thiên Khổng Tử thế gia của sách Sử ký:

    Cổ  giả Thi tam thiên dư  thiên cập chí Khổng Tử khứ  kỳ trùng thủ khả  thi ư lễ nghĩa thượng thái Tiết Hậu Tắc trung thuật Ân Chu chi thịnh chí  U Lệ chi khuyết... tam bách ngũ thiên.

    (Ngày xưa Thi có  hơn ba ngàn thiên Khổng Tử san khứ phần trùng phúc chỉ lấy những thiên hợp với lễ nghĩa trước nhặt các bài từ đời Tiết Hậu Tắc kế  đến các bài thuật sự hưng thịnh đời Ân Chu sau là các bài nói về sự khuyết điểm của U vương và Lệ vương... gom có ba trăm lẻ năm thiên.)

Lục Đức Minh trong Kinh điển thích văn cũng viết:

    Khổng Tử  tối tiên san lục ký thủ  Chu thượng kiêm Thương tụng phàm tam bách thập nhất thiên.

    (Khổng Tử san lục Kinh Thi trước hết chọn lấy những bài về đời Chu lại lấy cả những bài Thương tụng phàm ba trăm mười một thiên.)

Người ta thường vịnh vào các thuyết trên này để cho rằng Khổng Tử  có san định Kinh Thi. Tuy nhiên một số học giả như Khổng Dĩnh Đạt Trịnh Tiều Chu Hy Chu Di Tôn Thôi Thuật... vẫn còn hoài nghi việc đó vì Khổng Tử chưa bao giờ nói đến việc mình san định Kinh Thi. Vả lại Thi có hơn ba ngàn thiên Khổng Tử chỉ chọn lấy ba trăm thiên vậy là bỏ đi chín phần mười chẳng khác nào phá họai một kho tàng văn học phong phú thời cổ. Hơn nữa Sử ký của Tư Mã Thiên tuy có nói đến việc Khổng Tử san định Thi nhưng cũng cho ta biết rằng trong thời Xuân Thu thi ca bị tàn khuyết rất nhiều. Vì thế cho nên trong Độc phong ngẫu chí Thôi Thuật đã biện minh việc Khổng Tử san Thi như sau:

    Khổng Tử  san thi thục ngôn chi? Khổng Tử  vị thường tự ngôn chi dã Sử  ký ngôn chi nhĩ Khổng Tử  viết: "Trịnh thanh dâm" thị Trịnh dâm thi dã. Khổng Tử viết: "Tụng Thi tam bách" thị chi hữu tam bách Khổng Tử vị thường san dã. Học giả bất tín Khổng Tử sở tự ngôn nhi tín tha nhân chi ngôn thậm hỹ kỳ khả quái dã!

    (Ai bảo Khổng Tử  có san định Kinh Thi? Việc đó thấy chép trong Sử ký chứ Khổng Tử chưa khi nào nói đến. Khổng Tử nói: "Tiếng nước Trịnh dâm" ấy là nước Trịnh có nhiều thi ca dâm dật. Khổng Tử nói: "Đọc Thi ba trăm thiên" ấy là Thi có ba trăm thiên chứ Khổng Tử chưa từng san định. Học giả không tin lời Khổng Tử mà tin lời người khác thật là điều quái gở!)

Cho nên có thể  tin rằng những bài thi ca xưa đến thời Khổng Tử  bị tàn khuyết rất nhiều chỉ còn lại chừng ba trăm thiên. Nếu Khổng Tử có chỉnh lý Kinh Thi thì cũng chỉ bớt những câu tối nghĩa hoặc rườm rà chứ không phải chọn lấy một phần mười như Tư Mã Thiên đã viết.

[sửa] Các bản Kinh Thi

Về đời nhà Hán có bốn bản Kinh Thi xuất hiện:

  1. Lỗ Thi do Thân Bồi người nước Lỗ chú giải.
  2. Tề Thi do Viên Cố Sinh người nước Tề chú giải.
  3. Hàn Thi do Hàn Anh chú giải.
  4. Mao Thi do Mao Công (tức Mao Hanh và Mao Trường) chú giải.

Ba bản Lỗ Thi Tề ThiHàn Thi là kim văn còn bản của Mao Công là cổ văn. Về sau Lỗ Thi mất về đời nhà Tần Tề Thi mất về đời nhà Ngụy Hàn Thi mất về đời Ngũ đại chỉ còn Mao Thi còn truyền đến ngày nay.

[sửa] Nội dung Kinh Thi

Kinh Thi gồm có 311 thiên. Trong số đó chỉ có 305 thiên là đầy đủ còn 6 thiên kia chỉ có đề mục nhưng không có lời. Theo bản Mao Thi Kinh Thi gồm có ba phần như sau:

[sửa] Quốc phong

Quốc phong là những bài ca dao của dân tộc các nước chư hầu đuợc nhạc quan sưu tập. Quốc phong có 160 thiên chia làm 15 quyển mỗi quyển một nước gồm có:

  1. Chính phong: Chu nam và Thiệu nam.
  2. Biến phong: Bội phong Dung phong Vệ phong Vương phong Trịnh phong Tề phong Ngụy phong Đường phong Tần phong Cối phong Tào phong Mân phong.

[sửa] Nhã

Nhã nghĩa là chính đính gồm những bài hát nơi triều đình. Nhã chia ra làm 2 phần:

  1. Tiểu nhã: những bài dùng trong trường hợp không quan trọng lắm như các buổi yến tiệc (74 thiên).
  2. Đại nhã: những bài dùng trong trường hợp quan trọng như khi Thiên tử hợp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường (31 thiên).

[sửa] Tụng

Tụng nghĩa là ngợi khen gồm những bài ca tụng các vua đời trước và dùng để hát ở chốn miếu đường. Tụng có tất cả 40 thiên chia làm:

  1. Chu tụng: 31 thiên.
  2. Lỗ tụng: 4 thiên.
  3. Thương tụng: 5 thiên.

Trong Kinh Thilục nghĩa là: Phong Nhã Tụng phú tỷ hứng. Phong Nhã Tụng là trỏ bộ phận của âm nhạc còn phú tỷ hứng tức là các thể của Phong Nhã Tụng.

Ba thể phú tỷhứng nói về kỹ thuật làm thơ. Chỉ rõ tên nói rõ việc ấy là phú. Thấy việc hư hỏng đương thời mà không dám nói rõ dùng phép so sánh kín đáo để phóng thích ấy là thể tỷ. Mượn vật để nói nên lời là thể hứng. Sự bất đồng giữa tỷhứng do ở điểm này: thể tỷ chỉ lấy vật làm tỷ dụ chứ không nói rõ ý chính thể hứng thì trước hết dùng phép tỷ dụ rồi nói rõ ý chính ra.

Thế là nội dung Kinh Thi gồm có ba phần lớn (Phong Nhã Tụng) và ba thể (phú tỷ hứng) mà cổ nhân đã gọi là sáu nghĩa của Kinh Thi. Riêng về Phong Nhã Tụng tuy có nhiều định nghĩa khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi học giả nhưng có thể thừa nhận cách phân lọai trong Mao Thi là tương đối hợp lý.

[sửa] Các thiên của Kinh Thi

Kinh thi có 311 thiên gồm 3 quyển: Thượng Trung Hạ. Quyển Thượng chép thơ Quốc phong quyển Trung gồm Đại nhãTiểu nhã và quyển Hạ là phần thơ Tụng.

[sửa] Thơ Quốc Phong

Gồm 159 thiên:

[sửa] Chu Nam

Có 11 thiên:

  1. Quan thư: Chồng nhớ vợ.
  2. Cát đàm: Phận sự người vợ lo dệt vải.
  3. Quyền nhỉ: Vợ nhớ chồng.
  4. Nam hữu cù mộc: Chúc người quân tử.
  5. Chung tư: Chúc đông con.
  6. Đào yêu: Khen thục nữ lập gia đình.
  7. Thố tứ: Khen người có tài cán.
  8. Phù dĩ: Phụ nữ an nhàn đi hái trái.
  9. Hàn quảng: Khen phụ nữ đã trở lại đoan trang được người kính nể.
  10. Nhữ phần: Vợ nhớ chồng vẫn trung thành.
  11. Lân chi chỉ: Khen tặng dòng dõi của Văn vương.

[sửa] Thiệu Nam

Có 14 thiên:

  1. Thước sào: Khen tặng người con gái chư hầu được lấy chồng.
  2. Thái phiên: Khen tặng vợ chư hầu lo việc cúng tế.
  3. Thảo trùng: Vợ quan đại phu ở nhà một mình mà nhớ chồng.
  4. Thái tần: Khen tặng vợ quan đại phu lo việc cúng tế.
  5. Cam đường: Kính giữ di tích của Thiệu Bá.
  6. Hành lộ: Con gái lấy lẽ giữ mình mà cự tuyệt người con trai vô lễ.
  7. Cao dương: Khen quan lại y phục bình thường dáng thảnh thơi tự đắc.
  8. Ẩn kỳ lôi: Vợ nhớ chồng mong chồng mau trở về.
  9. Biểu hữu mai: Con gái lo được gả kịp thời.
  10. Tiểu tinh: Phận thiếp được hầu hạ vua.
  11. Giang hữu tự: Vợ chính rước các hầu thiếp đi theo.
  12. Dã hữu tử khuân: Lời người con gái chế giễu người yêu.
  13. Hà bỉ nùng hĩ: Khen con gái nhà Chu cung kính hòa thuận đi lấy chồng.
  14. Trâu ngu: Chư hầu đi săn có nhân đạo.

[sửa] Bội Phong

Gồm 19 thiên:

  1. Bách chu: Tình cảnh người vợ cả bị bỏ rơi.
  2. Lục y: Tình cảnh vợ chính bị lạnh lùng còn hầu thiếp được thân mến.
  3. Yến yến: Vợ chính thương nhớ đưa tiễn nàng hầu thiếp về quê.
  4. Nhật nguyệt: Lời than thở của người vợ bị phụ phàng.
  5. Chung phong: Cảnh người vợ sống với người chồng cuồng si ngu dại.
  6. Kích cổ: Nỗi lòng người lính chiến phải xa cách vợ nhà.
  7. Khải phong: Lời con tự trách không khéo thờ mẹ để mẹ đi tái giá.
  8. Hùng trĩ: Vợ nhớ tưởng chồng đang đi làm ở xa.
  9. Bào hữu khổ diệp: Lời than của người bị gò bó tình yêu.
  10. Cốc phong: Nỗi lòng người vợ bị chồng đuổi đi.
  11. Thức vi: Lời của bề tôi trách vua chịu hèn hạ nương tựa nước ngoài.
  12. Mao khâu: Kẻ lưu vong trách nước ngoài không chịu tiếp cứu.
  13. Giản hề: Lời người hiền bất đắt chí chịu làm chức phận khiêm nhường.
  14. Tuyền thủy: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở nước xa nhớ nhà muốn trở về.
  15. Bắc môn: Cảnh nghèo khó của quan lại thời loạn.
  16. Bắc phong: Nước sắp loạn rủ nhau đi tỵ nạn.
  17. Tĩnh nữ: Lời ước hẹn tình yêu.
  18. Tân đài: Nỗi lòng người con gái gặp ông chồng hèn hạ loạn luân.
  19. Nhị tử thừa chu: Lời thương xót hai anh em giành nhau cái chết.

[sửa] Dung phong

Có 10 thiên:

  1. Bách chu: Lời người góa phụ thủ tiết.
  2. Tường hữu từ: Chê dâm ô trong bọn vua chúa.
  3. Quân tử giai lão: Tả dung sắc người đẹp mà kém đức hạnh.
  4. Tang trung: Lời ước hẹn tình yêu.
  5. Thuần chi bôn bôn: Lời trách kẻ loạn luân dâm ô.
  6. Đính chi phương tring: Khen vua chăm lo xây dựng quốc gia.
  7. Đế đống: Lời gái đi tìm người yêu.
  8. Tướng thử: Lời châm biếm kẻ vô lễ thiếu uy nghi.
  9. Can mao: Việc quan chức biết thăm viếng người hiền.
  10. Tái trì: Lời người con gái nóng lòng về thăm nước đã mất.

[sửa] Vệ phong

Có 10 thiên:

  1. Kỳ úc: Lời khen tặng vua tiến ích việc tu thân.
  2. Khảo bàn: Tình cảnh người hiền ở ẩn.
  3. Thạc nhân: Tả người đẹp và quyền quý được rước dâu.
  4. Manh: Lời người con gái trách người yêu phụ bạc.
  5. Trúc can: Nỗi lòng người con gái lấy chồng ở xa nhớ nhà.
  6. Hoàn lan: Lời châm biếm vua còn nhỏ mà tự kiêu.
  7. Hà quảng: Nhớ quê chồng.
  8. Bá hề: Nỗi lòng nhớ chồng.
  9. Hữu hồ: Nỗi lòng người quả phụ muốn tái giá.
  10. Mộc qua: Lời tặng đáp để kết giao với nhau.

[sửa] Vương phong

Có 10 thiên:

  1. Thử ly: Nỗi cảm xúc thời xưa đã điêu tàn.
  2. Quân tử vu vi: Nỗi nhớ chồng đi làm xa.
  3. Quân tử dương dương: Cảnh thanh nhã khi chồng về xum họp.
  4. Dương chi thủy:Nỗi lòng người lính đóng đồn ở xa nhớ vợ.
  5. Trung cốc hữu thôi: Lời than thở của người vợ bị đuổi bỏ.
  6. Thố viên: Nỗi lòng của người quân tử gặp thời loạn không vui sống.
  7. Cát lũy: Lời than thở của người dân trôi nổi trong thời loạn lạc.
  8. Thái cát: Tưởng nhớ tha thiết tình nhân.
  9. Đại xa: Đắm đuối yêu nhau nhưng còn sợ pháp luật không dám bày tỏ.
  10. Khâu trung hữu ma: Lời giễu yêu của cô gái khi tình nhân không đến.

[sửa] Trịnh phong

Gồm 20 thiên:

  1. Tri y: tình của nhân dân mến đãi quan hiền tài.
  2. Thương Trọng tử: bị gò bó cô gái dặn người yêu không nên đến nhà tìm.
  3. Thúc vu điền: lời khen tặng Cung Thúc Đoạn.
  4. Thanh nhân: tình cảnh quân đội rã rời nhụt chí chiến đấu.
  5. Cao cầu: lời khen tặng quan chức không đổi thay tiết tháo.
  6. Tuân đại lộ: người con gái trách chồng ruồng bỏ.
  7. Nữ viết kê mình: Vợ thương chồng lo phụng sự chồng chu đáo.
  8. Hữu nữ đồng xa: tả người con gái đẹp đi chung xe.
  9. Sơn hữu phù tô: lời con gái đang yêu trêu ghẹo tình nhân.
  10. Thác hề: người con gái nhiệt tình tỏ ý mời trai cùng ca hát nhảy múa.
  11. Giảo đồng: lời đùa giỡn giữa cô gái với người yêu.
  12. Khiên thường: lời cô gái vui đùa với người yêu.
  13. Phong: cô gái hối hận không đưa người yêu.
  14. Đông môn chi thiêu: cô gái tỏ tình với người yêu.
  15. Phong vũ: cô gái hả hê khi gặp người yêu.
  16. Tử khâm: cô gái mong nhớ người yêu.
  17. Dương chi thủy: khuyên gười yêu giữ trọn niềm tin giữa hai người.
  18. Xuất kỳ đông môn: lòng trung thành mến thương vợ.
  19. Dã hữu man thảo: trai gái gặp nhau và cũng vừa lòng thích ý.
  20. Trân vĩ: trai gái thừa dịp dạo chơi để trao ân tình.

[sửa] Tề phong

Gồm 11 thiên:

  1. Kê minh: lời người hiền phi khuyên vua dậy sớm.
  2. Tuyền: lời châm biếm vua quan ham săn bắn mà quên việc chính trị.
  3. Trử: chàng rể chờ rước cô dâu.
  4. Đông phương chi nhật: trai gái yêu nhau hoà thuận với nhau.
  5. Đông phương vị minh: lời châm biếm quan coi tính giờ sai.
  6. Nam Sơn: lời châm biếm bọn vua chúa anh em thông dâm.
  7. Phủ điền: lời khuyên chớ dục tốc mà bất đạt.
  8. Lô linh: lời khen tặng vua đi săn.
  9. Tệ cẩu: châm biếm người đàn bà loạn luân được tự do trở về thông dâm với anh ruột.
  10. Tái khu: châm biếm người đàn bà thông dâm với anh ruột.
  11. Y ta: khen Lỗ Trang Công đủ tài mà không ngăn được mẹ.

[sửa] Ngụy phong

Gồm 7 thiên:

  1. Cát cú: châm biếm người keo kiệt.
  2. Phần tứ nhu: châm biếm người cần kiệm không trúng lễ.
  3. Viên hữu đào: nỗi lo buồn của người hiểu biết với thời cuộc bấy giờ.
  4. Trắc hộ: nỗi lo buồn của cha mẹ anh em người đi quân dịch.
  5. Thập mẫu chi gian: chính trị hỗn loạn người hiền lo trở về ở ẩn.
  6. Phạt đàn: người quân tử chẳng chịu ngồi không mà hưởng.
  7. Thạc thử: dân chúng hận vua bội bạc mới bỏ đi nơi khác.

[sửa] Đường phong

Gồm 11 thiên:

  1. Tất suất: lời răn cũng nên vui chơi nhưng không nên thái quá phải lo công việc của mình.
  2. Sơn hữu xu: ai rồi cũng chết nên cũng nên vui chơi.
  3. Dương chi thủy: dân chúng chở che ủng hộ người quân tử dựng nước.
  4. Tiêu liêu: khen tặng cây tốt trái nhiều.
  5. Trù mậu: lời trai gái mừng rỡ vì được thành vợ chồng.
  6. Đệ đỗ: lời than trách của người không anh em mà cũng không được ai giúp đỡ.
  7. Cao cầu:lời than phiền quan lại hống hách không ưa dân.
  8. Vô y: lời kiêu ngạo của kẻ soán ngôi mà trở nên danh chính ngôn thuận do hối lộ.
  9. Hữu đệ chi đỗ: vua mong hậu đãi bậc hiền tài.
  10. Cát sinh: lời chung thủy của người vợ lính quân dịch mong nhớ chồng.
  11. Thái linh: chớ nghe gièm pha.

[sửa] Tần phong

Gồm 10 thiên:

  1. Xa lân: tìm được vua đáng thờ.
  2. Tứ thiết: vua tôi hòa hiệp cùng đi săn bắn.
  3. Tiểu nhung: chinh phụ khen nhớ chồng.
  4. Kiêm gia: đi tìm người hiền.
  5. Chung Nam: lời dân khen tặng vua mình.
  6. Hoàng điểu: dân thương tiếc người có tài mà bị chôn sống theo vua.
  7. Thần phong: vợ nhớ chồng vắng nhà.
  8. Vô y: binh sĩ thương nhau lo việc chiến đấu.
  9. Vị dương: tiễn người cậu ra đi.
  10. Quyền dư: lời than của người hiền lần lần bị bạc đãi.

[sửa] Trần phong

Gồm 10 thiên:

  1. Uyển khâu: người hoang đãng múa hát vui chơi.
  2. Đông môn chi phần: trai gái tụ hợp múa hát trao ân tình.
  3. Hoàng môn: người ở ẩn dễ tính sống thế nào cũng được.
  4. Đông môn chi trì: trai gái nói chuyện mà hiểu lòng nhau.
  5. Đông môn chi dương: trai gái hẹn mà không gặp.
  6. Mộ môn: kẻ ác được cảnh cáo mà không biết hối cãi.
  7. Phong hữu thước sào: lo buồn vì người yêu bị kẻ khác lừa bịp.
  8. Nguyệt xuất: nhớ người đẹp mà lòng ưu sầu.
  9. Tru Lâm: châm biếm vua thông dâm với vợ quan.
  10. Trạch bì: đau đớn nhớ thương mà không được gặp người yêu.

[sửa] Cối phong

Gồm 4 thiên:

  1. Cao cầu: thương vua không lo chính trị chỉ lo đẹp đẽ quần áo.
  2. Tố quan: mong mỏi thấy lại tang phục đời xưa.
  3. Thấp hữu trường sở: dân chúng quá thống khổ than thở không bằng loại cỏ cây.
  4. Phỉ phong: lòng bi thương nhớ đến nhà Chu tàn hạ.

[sửa] Tào phong

Gồm 4 thiên:

  1. Phù du: ngao ngán người đời ham mê vật chất mà muốn trở về ở yên.
  2. Hậu nhân: lời châm biếm đứa tiểu nhân được làm quan to.
  3. Thi cưu: khen tặng người quân tử chuyên nhất công bình đủ tài đức trị yên thiên hạ.
  4. Hạ tuyền: thương tiếc nhà Chu không còn cường thịnh như xưa.

[sửa] Bân phong

Gồm 7 thiên:

  1. Thất nguyệt: những công việc phải làm quanh năm của nhân dân.
  2. Xi hiêu: chim tận tụy bảo vệ ổ qua cơn giông bão.
  3. Đông Sơn: tình cảnh khi chinh chiến trở về.
  4. Phá phủ: quân sĩ khổ nhọc nhưng vẫn kính mến chủ tướng.
  5. Phạt kha: việc gì cũng có đường lối noi theo.
  6. Cửu vực: dân mến tiếc Chu công.
  7. Lang bạt: thái độ ung dung của Chu công.

[sửa] Nhã

[sửa] Tiểu Nhã

  1. Lộc minh: Đãi đằng tân khách để vua tôi quyến luyến nhau.
  2. Tứ mẫu: Nỗi lòng của bề tôi vì việc vua sai mà không phụng dưỡng được cha mẹ.
  3. Hoàng hoàng giả hoa: Bề tôi lo công việc của vua sai.
  4. Thường đệ: Anh em vợ con thì bao giờ cũng quý hơn bạn hữu.
  5. Phạt mộc: Tìm bạn bè hậu đãi bạn bè.
  6. Thiên bảo: Lời của bề tôi cúc tụng vua.
  7. Thái vi: Nỗi lòng người chiến sĩ lúc ra đồn thú và lúc trở về.
  8. Xuất xa: Quân đội đi và trở về sau khi thắng trận.
  9. Đệ đồ: Vợ mong chồng đi quân dịch mau trở về.
  10. Nam cai: (không có lời thơ).
  11. Bạch hoa: (không có lời thơ).
  12. Hoa thử: (không có lời thơ).
  13. Ngư ly: Các món để ăn uống đãi khách rất nhiều và ngon.
  14. Do canh: (không có lời thơ).
  15. Nam hữu gia ngư: Món ăn vật uống ngon lành đem ra đãi khách.
  16. Sùng khâu: (không có lời thơ).
  17. Nam sơn hữu đài: Lời chủ nhân chúc tụng tân khách.