Cảm nhận: SỰ KHẮC NGHIỆT CỦA VĂN CHƯƠNG (Trần Thị Minh Thư - TH Văn B K32).




SỰ KHẮC NGHIỆT CỦA VĂN CHƯƠNG

Khi tư tưởng thực tế đi quá đà sang nẻo về chủ nghĩa thực dụng thì mọi giá trị tinh thần bỗng nhiên bị "xét lại" và hầu như qua "cuộc sát hạch bất đắc dĩ". Tất cả chúng đều chung cảnh ngộ của cuộc "đại hạ giá". Văn chương cũng nằm trong số đó. Tác phẩm văn học xưa nay vẫn được ví như hương của hoa mùi thom của cốm hoa có sắc mà không hương cốm ngon và dẻo mà không thơm thử hỏi người sành điêu có ưa không? Ở đây giá trị cơ bản của chúng là giá trị tinh thần. Thế nhưng trong cuộc sống ai chơi hoa cũng thưởng hương người nào ăn cốm cũng hít hà mùi thơm rồi mới cho vào miệng. Cuộc sống xô bồ khiến người ta có nhu cầu thưởng thức nhanh nên mới sinh ra thứ "mỳ ăn liền" "đường dây nóng" "chụp ảnh lấy ngay" "dịch vụ chuyển phát nhanh" "tín hiệu SOS" tiền trao cháo múc...Chính vì tất cả đều phải nhanh đều phải "ngắm lâu" (như các giá trị tinh thần chẳng hạn) bỗng bị đặt sang hàng thứ yếu. Mà đã là thứ yếu thì có càng tốt mà không có cũng chẳng sao. Văn chương bao đời nay là một loại sản phẩm tinh thần không "ăn" ngay được không "sờ"thấy được Vậy đích thị nó là thứ mà người đời thường khó lòng định giá. Cái không định giá được và không phải nhu cầu bức thiết như cơm ăn nước uống hằng ngày con người ta rất dễ bỏ qua. Cực đoan một chút có thể ví văn chương là "cục vàng" nhưng nó chỉ là hòn đá cuội đáng ghét khi ta trân trọng dâng cho kẻ hành khất đang trong cơn đói lả. Tấm lòng là gì? Tâm hồn là gì?điều đó không quan trong. Ai đó khôgn thuộc lấy một mẫu ca dao một lời hát ru của mẹ cũng có sao đâu miễn lad nhà phải cao và to xe phải là thứ đắt tiền ra đường có nhiều kẻ sợ. Cái văn hoá "mạnh vì gạo bạo vì tiền" dễ dàng biến con người ta thành những cổ máy chỉ biết cho mình và vì mình. Đối với họ "xã hội là gì?" chẳng cần bận tâm. Họ là con người cá nhân cần gì băn khoăn nghĩ về đồng loại cho mệt óc. Người ta gọi đó là những cá thể không có tính nhân văn (chưa đến mức phi nhân tính nhưng cũng đã đồng nhất với cái máy). Thế nhưng hai chữ NHÂN VĂN lại quá mới mẻ đối với chúng ta? Tính nhân văn là một thuộc tính chỉ có ở con người và là tiêu chuẩn đầu tiên quan trọng nhất phân định giữa niên giới con người và con vật. Phẩm chất này được nói đến nhiều trong nhiều lĩnh vực qua nhiều môn học khác nhau như đạo đức tư tưởng pháp luật...Vậy văn chương có mang tính nhân văn hay không?và sự thể hiện của nó trong đó như thế nào? Đây là những câu hỏi cần được lặp lại hàng vạn lần cho hậu thế khỏi quên. Tác phẩm văn học là những tấm gương về những cuộc đời của con người xã hội. Vì vậy nó phải mang tính tập trung và tiêu biểu nhất của tính nhân văn. Tuy nhiên nó lại là một nghành nghệ thuật (khác với đạo đức học pháp luật học xã hội học...) nên mang những nét đặc trưng riêng. Nó đề cao tính nhân văn (tức là coi nặng nội dung tư tưởng thuần tuý) ta rất dễ sa vào thuyết giáo đạo đức cho một tác phẩm văn học. Nếu khai thác nọi dung tư tưởng của một tác phẩm dưới góc độ một công trình nghệ thuật sẽ làm cho người truyền đạt lẫn người tiếp nhận gặp nhiều khó khăn. Con đường ngắn và hiệu quả nhất đưa văn chương đến với mọi người là DẠY và HỌC. Nhưng xem ra cách này cũng lắm gian nan. Cách tiếp nhận thứ nhất làm học sinh chán học vì nó như một mớ thuyết giáo những điều đã được nói đến trong môn lịch sử đạo đức. Cách tiếp cận thứ hai đòi hỏi những phẩm chất của người truyền thụ. Khi coi tác phẩm văn chương là một công trình nghệ thuật thì người nghiên cứu nó phải là một nghệ sỹ (có tài và có năng khiếu) Trên thực tế oái oăm thay những người có tài văn chương lại ít người làm nghề rao bán "hương hoa" "hương cốm" cuộc đời (số này hình như là không ít). Với cái "giá rả bất ngờ" của những giá trị tinh thần người làm công tác giảng dạy văn chương khó lòng chịu đựng nỗi. Tình trạng này khiến cho bao người yêu văn chương sau một thời gian cầm cự với niềm đam mê của mình cuối cùng cũng phải ngậm ngùi nói lời chia tay mà không hẹn ngày trở lại! Bên cạnh "sự trả nghĩa" (có phần) "bèo bọt" (không tính đến đặc trưng nghành nghề) của xã hội là những quan niệm của người dân về nghánh khoa học này. Ít người hiểu về văn chương nên xem nhẹ nó tất nhiên xem thương luôn cả những người làm công tác nghiên cứu giảng dạy bộ môn nghệ thuật ngôn từ. Cuộc sống áo cơm bắt chúng ta phải trằn trọc tính kế làm ăn (như dạy thêm chẳng hạn tuy nhiên đối với người dạy văn thì lương là nguồc thu nhập "ổn định đén khó chịu"!) thành thử ít ai lại "hoài hơi" lo xa về "một thứ không đâu" khi mà "chữ nghĩa văn chương không bằng cái xương cá lẹp" (dân gian)! Nam Cao chẳng đã từng nói khi muốn có tình yêu của một cô giá đói thì trước hết phải làm cho dạ dày của cô ả đầy lên đã là gì! Thôi thì nghe theo bậc "tiền bối" cho rồi đằng nào mình cũng là kẻ hậu thế sánh sao kịp với những người đi trước hiểu nhiều biết rộng! Như thế cái nhu cầu bản năng xem ra còn nặng nề đối với mỗi người chúng ta. Nguyễn Đăng Mạnh đã gọi cái đói và miếng ăn là nỗi ám ảnh của dân tộc ta suốt bao nhiêu thế kỷ. Mà đã là ám ảnh thì khi không còn đói nữa con mắt vẫn cứ thèm! Điều này có nghĩa là nhu cầu tinh thần vẫn ở hàng thứ yếu (hoặc người ta có cảm giác như vậy) Ở trường phổ thông có tình trạng học sinh không thích học văn ít học thêm môn văn mặc dù không có học sinh nào lại không biết rằng nó là một trong hai môn bắt buộc của các kỳ thi tốt nghiệp thuộc mọi cấp học. Tại sao vậy? khi những người thực sự có năng lực tư duy trong lĩnh vực khoa học xã hội thì họ đồng thời cũng đủ sức hiểu rằng " cơm áo không đùa với khách thơ" nên chọn nghành khác mà đi vậy mộng văn chương hãy để đó khi có điều kiện thì làm nghề tay trái cũng chẳng sao. Vì vậy không có gì là khó hiểu khi có rất nhiều người làm cán bộ quản lý kỹ sư dạy toán dạy sinh lại tham gia sáng tác văn thơ viết báo...(mà trong số họ rất có nhiều người sử dụng ngói bút sắc sảo không kém gì một kỹ sư tâm hồn đích thực). Từ thực trạng đó càng ngày càng hiếm những giáo viên dạy văn giỏi (dạy văn với tư cách là một bộ môn nghệ thuật ngôn từ). Đây là nguyên nhân chính khiến chất lượng bài giảng dậm chân tại chỗ (bài dạy không khác gì một bài phân tích đã được công bố trong các sách tham khảo đã coa mặt trên thị trường từ thời tám hoánh). Ở trường phổ thông lớp già (những người của thời bao cấp) dần dần ra đi và cũng mang theo những giáo viên dạy văn giỏi "về với góc yên tĩnh cuối cùng" của cuộc đời để lại một lớp giáo viên trẻ chưa đủ sức "khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có". Họ không biết xoay sở ra sao với đống tài liệu tham khảo có nguy cơ càng ngày càng chất đống lên không "cộng" được "văn với đời" bằng "một" mà là "hai" hai thứ tách rời nhau xa nhau vời vợi. Từ một vài suy nghĩ trên cũng cho ta đi đén một nhận định chung: Người dạy văn chọn nghề văn phải đứng trước những thử thách khắc nghiệt của cuộc sống phải vui vẻ chấp nhận những thiệt thòi cho thú đam mê (nếu không đam mê thì không nên theo mộng văn chương) kẻo có ngày đứt gánh giữa đường lại khổ. Điều này cũng có nghía là chúng ta phải có những động thái mới cho vấn đề đào tạo giáo viên dạy và học văn chương nếu không đến một ngày nào đó sẽ vắng bóng trên bục giảng những giáo viên dạy văn giỏi. Tất nhiên để làm cho người khác hiểu mình để dành lại những gì thuộc về vinh quang quá khứ (cái thời bình văn người chật như nêm) thì không phải chỉ cho mọi người thấy những ưu điểm của mình qua những lời nói suông mà phải thông qua những hành động thiết thực. Thiết nghĩ những bài giảng văn sinh động bổ ích là hoạt động thiết thực nhất của một giáo viên dạy văn trong mục tiêu lấy lại vị thế cao quý đích thực cho nghành khoa học này. Vẫn biết "văn chương thiên cổ sự" (văn chương là chuyện của muôn đời) mà sao người dạy văn vẫn cứ thấy trống vắng và chạnh lòng với đồng lương cố định và con mắt không mấy vị nể của mọi người...                                         

                                                           T.T.M.T

Lê Xuân Thọ

Gui MT

Văn chương là nợ không thành nợ/ Vay trả tùy ta với cuộc đời.